Sứ Giả Tình Thương

Hồi Ký của AH Bùi Đức Hợp - Tập 2


Lời nói đầu
     Tiếp theo hồi ký I “Hai lần trỗi dâỉy”, tôi viết hồi ký II “Sứ giả tình thương” để ghi lại 59 ngày công tác tại làng Việt Nam, Phi từ ngày 7/1/03 – 7/3/03 và một số suy nghĩ riêng tư.  Hồi ký gồm 13 chương, 23 phụ chương và 3 phụ bản.  Mỗi chương mang một tựa đề riêng.  Phần lớn các phụ chương, phụ bản đã được đăng trong Đặc San Ninh Cơ, Lá Thư AHCC, và các tạp chí khác.
       Để có thể tóm lược những việc làm của chúng tôi trong suốt thời gian nói trên, tôi xin phép mượn bài viết “Một tấm lòng “ đính kèm của Mục Sư Phạm Phú Yên, một cư dân trong làng.
Những kết quả mà chúng tôi đạt được, tuy nhỏ nhoi tầm thường, nhưng chúng tôi đã làm với tất cả tình yêu lớn lao.  Chúng giống như một giọt nước trong biển cả, nhưng nếu chúng tôi không làm, biển cả sẽ thiếu đi một giọt nước dù là một giọt nước mắt.
     Như đã thưa trong tập I, không phải là nhà văn, tôi chỉ biết diễn tả tâm tình bằng những lời lẽ đơn sơ mộc mạc.  Điều mà tôi mong mỏi là qua tập Hồi Ký, các con các cháu tôi rút ra những bài học sống động áp dụng cho chính bản thân.  Riêng các cháu thuộc ngành công chánh, kiến trúc, xây dựng cần đọc kỹ chương 6-9, vận dụng sáng tạo để giải quyết vấn đề trong mọi tình huống khó khăn.  Đối với thân hữu, tôi muốn thổ lộ niềm tâm sự chan chứa tình người, bàng bạc qua từng câu từng chữ , trải dài trong quãng đời thiện nguyện.
     Sau cùng, qua tập hồi ký này, tôi xin dâng lời cảm tạ thân thương nhất lên những người anh em bé nhỏ đã vực tôi dậy trong những lần vấp ngã, và lời tạ lỗi những ai mà tôi vô tình xúc phạm trên bước đường phục vụ.

Phục sinh 2004

Người viết

Một tấm lòng
Kính tặng KS Bùi Đức Hợp

      Lần đầu tiên gặp ông tại làng Việt Nam, Palawan, tôi đã có một ấn tượng tốt đẹp về ông với những nét giản dị thật thà và trong sáng.  Nếu không được nói trước, chắc tôi sẽ không tin người tôi đang tiếp xúc lúc bấy giờ là một kỹ sư được nhiều người biết tiếng tại Louisiana, Hoa Kỳ.
     Trong những ngày tháng làm thiện nguyện tại Làng,  đồng bào cũng như nhân viên ban Xây Dựng và bản thân tôi đã học hỏi nhiều điều hay từ sự hướng dẫn nhiệt tình của ông.  Đóù là điều đáng quý khi ông không giữ kiến thức cho riêng mình, nhưng vui lòng chia sẻ, chỉ dạy những kinh nghiệm quí báu mà ông đã từng trải cho thế hệ đàn em.
      Tôi được biết, giữa hè 1998, ở tuổi 62, ông quyết định về hưu sớm, trong khi còn có biết bao công trình qui mô trên đất Mỹ đang cần sự góp sức của ông.  Thay vì vui hưởng những ngày nhàn hạ với con cháu sau những năm làm việc cực nhọc, ông quyết định dùng thời gian còn lại của đời mình để tiếp tục phục vụ tha nhân như ý nguyện hằng ao ước.
      Điều gì đến sẽ đến, đầu năm 1999, KS Bùi Đức Hợp tình nguyện phục vụ không lương tại làng Việt Nam, Palawan, giúp đồng bào xây dựng, kiến thiết các hạ tầng cơ sở.  Kết quả là một Trung Tâm Văn Hóa gồm nhà hàng với 100 chỗ ngồi một sân khấu trình diễn văn nghệ, một quầy bán đồ lưu niệm đã được thành hình.
      Nó là niềm hãnh diện của đồng bào tại làng Việt Nam nói riêng và của cộng đồng người Việt trên đất Phi nói chung.  Chúng tôi có lý do để hãnh diện vì từ nơi đây, du khách nước ngoài cũng như người dân bản xứ, chính quyền trung ương cũng như địa phương của Phi đã hiểu ít nhiều thế nào là văn hóa, phong tục cổ truyền của dân tộc Việt Nam qua những món ăn, những điệu vũ, những tiếng hát câu hò.  Cũng chính nơi đây, chúng tôi và con cháu chúng tôi có dịp tự hào với mọi người: mặc dầu sống nơi đất khách quê người, chúng tôi vẫn không quên cội nguồn qua các nghi lễ cổ truyền hàng năm.
Sau những thiếu sót xây dựng vội vã ban đầu, hệ thống cống thoát nước đã được ông tái thiết kế và cùng với nhân viên ban Xây Dựng, ông đích thân sửa chữa và hoàn chỉnh.  Biết bao công tác khác như sửa chũa đình, chùa, thánh thất, nhà thờ, hội thánh v.v. đã được hoàn tất một cách tốt đẹp.  Ông sống hòa mình với đồng bào , cố gắng tạo cho mỗi gia đình một khung cảnh thân thương như thường thấy ở quê nhà.
     Trở lại Làng lần thứ hai, sức khỏe của ông đã giảm đi một phần nào, nhưng bầu nhiệt huyết muốn góp một bàn tay xây dựng một làng Việt Nam phú cường không hề thuyên giảm, nếu không muốn nói là bùng lên mạnh mẽ hơn, đó là kết quả một con suối giữ nước đang thành hình với dự án tưới tiêu đợt I.
      Tuy bận rộn với công tác, ông cũng dành thì giờ đi thăm hỏi sức khỏe đồng bào.  Ông đã chia sẻ tất cả thuốc men mang theo cho những người đau ốm.  Cũng vìụ vậy, một hộp thuốc lưu động đã được thành lập với sự góp tay của thiện nguyện viên vô danh mà ông đặt tên cho họ là “sứ giả tình thương”.  Những viên thuốc của ông chưa hẳn chữa lành bệnh cho đồng bào, nhưng sự quan tâm thăm viếng,  hỏi han ân cần và khích lệ chân tình của ông là linh dược chữa lành những tâm hồn bất an, xao xuyến.
     Đi tới đâu, ông cũng thể hiện tinh thần giúp đỡ mà Thiên Chúa đặt để trong con người của ông.  Dù không nói ra nhưng có lẽ ông vẫn chưa cảm thấy hài lòng những gì ông đã đóng góp, tận đáy lòng ông muốn cho nhiều hơn và cho mãi mãi.
      Ngày trở về với ông không có nghĩa là xong trách nhiệm nhưng là mang thêm một trách nhiệm mới mà đồng bào đã tin cậy giao phó cho ông.  Dự án cổng làng sẽ được xây dựng theo phương châm “Cổng làng còn, làng Việt còn”.  Dự án suối và hồ chứa nước đợt II sẽ thực hiện trong khả năng tài chánh cho phép với hoài bão biến làng thành một trung tâm du lịch lý tưởng.  Vì vậy, sự trở lại Làng lần thứ ba không còn là ước vọng của riêng ông mà còn của đại đa số đồng bào trong Làng.
      Ngày mai, ông sẽ rời Làng để về Hoa Kỳ.  Người rời xa chắc quyến luyến nhiều, đồng bào ở lại càng luyến tiếc hơn nữa khi thiếu vắng đi một người đầy khả năng, nhiệt tình và yêu Làng như ông.  Có thể một số đồng bào chưa hiểu và thông cảm ông sẽ là những người yêu quí ông hơn sau này, tôi hy vọng như thế.
      Không biết người nào ngày mai có tặng bông hồng cho ông không?  Phần tôi, tôi chỉ biết dâng lên Thượng Đế lời cầu nguyện xin Ngài luôn ban sức khỏe dồi dào và tinh thần phấn chấn cho ông để ngày trở lại không xa. Tôi luôn tin chắc rằng những kết quả mà KS Bùi Đức Hợp đã đóng góp trên đất nước Hoa Kỳ nói chung và cho làng Việt Nam nói riêng sẽ là niềm tự hào chung cho tất cả những người Việt khắp nơi trên thế giới.

Phạm Phú Yên
Làng Việt Nam, ngày 5 tháng 3 năm 2003

Xem tiếp
Chương 1: Chiếc Ghế Hồi Sinh