Sứ Giả Tình Thương

Hồi Ký của AH Bùi Đức Hợp - Tập 2


Chương 1: Chiếc Ghế Hồi Sinh
    
Tám giờ sáng ngày 12/1/03, anh chị Chu Thái Hoành chở tôi tới phi trường quốc nội Manilla để đi Puerto Princesa.  Lúc cân hành lý, tôi hơi hồi hộp, máy bay nội địa chỉ cho phép mang theo 20 kg hành lý, trong khi hai va-li tôi cân nặng gần 40 kg: nào là sách kỹ thuật từ Mỹ sang, nào là quà cáp mua từ Việt Nam. Cũng may, nhân viên hàng không Phi thông cảm, cho qua mà không đòi thêm một phụ phí.
     Sau 1 giờ bay, tôi tới phi trường quốc tế Puerto Princesa thân quen.  Chờ hơn 1/2 giờ tại bãi đậu xe, không thấy ai ra đón, mặc dầu tôi đã email trước cho anh Giao và cô Thủy.  Giao tưởng tôi đến phi trường Manilla và xuống Làng cùng với phái đoàn.  Còn cô Thủy bận chào hàng, lâu lâu mới ra Moscom (cafe’ internet) mở email.  Tôi đành bao xe tricycle ( xe 3 bánh) về làng, với giá 100 Pesos.
     Quốc lộ chính từ thành phố về Làng dài 13 km đang được nhà thầu Hàn Quốc nâng cấp, đường xóc và bụi.  Càng gần tới Làng, tôi càng bồi hồi xúc động, giống như tâm trạng một người xa quê lâu ngày trở về.
Tới cổng Làng, tôi bảo bác tài cho xe chạy thẳng tới nhà anh chị Lâm, đường Hùng Vương.  Mọi người vô cùng ngạc nhiên và vui mừng.  Họ chỉ biết tôi sẽ đến nhưng không rõ ngày giờ nào và rất lấy làm tiếc không mang xe ô tô ra phi trường đón ( khác với năm 1999, hiện nay nhiều nhà có xe riêng).

* * *

     Chẳng mấy chốc, tin “tôi về” đã lan truyền mau lẹ từ cổng làng đến xóm dưới.  Họ đổ xô đến, tay bắt mặt mừng, hỏi thăm, sức khỏe, gia đình, thời sự v.v. Tôi hẹn sẽ đến thăm từng nhà và tâm sự nhiều hơn, sau những tháng năm xa cách.
Sau cơm trưa, tôi mặc quần áo ngắn, đi bộ quanh Làng.  Cây cao, lá cành xum xoe, rậm rạp hơn 3 năm về trước, nhất là cây bàng hai tán tại công viên nhà thờ.  Cửa hàng tạp hóa nhiều hơn mà sao phố xá vắng vẻ, không nhộn nhịp như xưa!  Thỉnh thoảng, tôi bắt gặp những cặp mắt dò xét hay những nụ cười nửa miệng, thiếu tự nhiên.
Điểm cuối tôi dừng chân là linh đài Đức Mẹ La Vang, nằm bên quốc lộ đang thi công.  Tượng trắng biến thành nâu nhạt, cỏ mọc bít lối vào.  Gió từ biển Đông thổi từng cơn, cành vú sữa phe phẩy bờ vai tượng như muốn xua đuổi lớp bụi đường.  Mới 3 năm mà sao cảnh tượng đã xác xơ, tiều tụy.  Bước sang kios, bảng khắc tên người tặng “Kỹ Sư B.Đ. H...” vẫn còn đó, nhưng trong 2 băng (ghế dài) cái còn, cái mất.  Lòng tôi chùng lại.
    Lần đầu sang thăm Làng vào năm 1999, tôi thiết kế, lập dự toán, và xây dựng một kios làm mẫu, để kêu gọi những ân nhân bảo trợ những kios tương tự, sẽ được xây dựng dọc 2 bên bờ suối.  Kios được kiến trúc theo dạng một cột, sử dụng toàn vật liệu địa phương, mái lợp tad tad (tre chẻ), bàn, ghế bằng tre cật, đánh vẹc ni.  Rồi ra, trong những buổi trưa hè oi bức, đồng bào cũng như du khách nghỉ mát nơi đây, nghe tiếng suối chảy mà quên đi một phần nào nỗi nhớ nhà.  Tôi ước mơ  biến làng thành một Trung Tâm Du Lịch lý tưởng với đường mòn Âu Cơ lên núi, đường Lạc Long Quân xuống biển, quán trọ bên hồ Tĩnh Tâm, hệ thống tưới tiêu và nhiều nữa. Với sự quyết tâm của mọi người, từng bước, tôi có thể biến giấc mơ thành hiện thực mà bước đầu là công trình Trung Tâm Văn Hóa đã hoàn thành trong năm 2000.  Nhưng giờ đây, lòng người ly tán.  Gục đầu trên bàn tre, tôi kiểm điểm lại công viêc, và tự hỏi con đường tôi đang đi đúng hay sai?
     Mỗi khi có vấn đề nan giải, tôi thường đắm mình trong cầu nguyện.  Lời Chúa bất thần đánh động tâm hồn tôi.  Nó là kim chỉ nam soi đường dẫn lối tôi trong mọi hoạt động.  Năm 1998, sau khi về hưu, tôi đi tìm Chúa, bằng con đường xả thân phục vụ tha nhân, hết lòng, hết sức, ngay cả cho đi những gì tôi đang cần.  Tôi đã thấy Chúa qua những người anh em khốn cùng nhất.    Trong  năm tháng phục vụ, lòng tôi mở rộng để đón nhận biết bao phép lạ kỳ diệu, những nguồn hạnh phúc tinh thần vô tận.  Tôi bước tới trong niềm cậy trông phó thác hoàn toàn.
     Ngoài quốc lộ, cơ giới đã ngưng hoạt động, từng đàn chim trời bay về phía núi.  Ngước nhìn về phía tượng ẩn hiện trong tàn cây, tôi cầu xin một ơn soi sáng. Lời Chúa lại vang vẳng bên tai “Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của ta đây là các người đã làm cho chính ta vậy”. Một quyết định mới lóe lên trong đầu tôi.  Dù còn một số ít gia đình ở lại, tôi vẫn tiếp tục chương trình đã đề ra.  Giả dụ không còn ai nữa, Làng sẽ tặng công trình này cho Giáo Hội Phi để tỏ lòng biết ơn nhân dân Phi đã che chở người Việt trong những ngày cưỡng bách hồi hương.  Đức cha Raymon C. Arguelles hứa sẽ duy trì làng Việt Nam mãi mãi, như là một biểu tượng lịch sử nói lên tình hữu nghị của 2 dân tộc Việt Phi.
Đường đã lên đèn.  Loa phát thanh từ các trụ đèn bắt đầu loan tin “Khách quý tới Làng...”. Tôi nhẹ nhõm quay về, tim đập nhịp nhàng theo bài Thánh Ca:
Lời Ngài là sức sống của con
Lời Ngài là ánh sáng đời con
Lời Ngài là chứa chan hy vọng, là đường để con hằng dõi bước.
     Qua ngày hôm sau, cùng với dân làng và ban Xây Dựng, chúng tôi bắt tay ngay vào việc.  Chiếc ghế đã mất, nay được đóng mới, bùloong vít chặt chân ghế với nền ximăng.  Cỏ rác dọn sạch.  Cây tỉa cành.  Tất cả trông như mới.

* * *

Du khách trở lại thăm Làng vào độ đầu xuân Quý Mùi không khỏi ngạc nhiên, khi thấy cảnh quan đã thay đổi nhiều, xanh, sạch, đẹp hơn xưa. Từ ngày chiếc ghế hồi sinh, dân làng trưa chiều “picnic” ngoài kios.  Bên ánh đèn cầy, tiếng cười rộn rã lại trở về với bát chè khoai, ly đậu nóng, chan chứa ân tình.


Xem tiếp
Chương 2: Chiếu phim phát triển du lịch