Sứ Giả Tình Thương

Hồi Ký của AH Bùi Đức Hợp - Tập 2


Chương 10: Ân tình trở thành thù hận
 
-Mày ăn bao nhiêu tiền của bà Sơ để viết bài xuyên tạc.
-Ra đường, mày sẽ bị xe tông.
-Sang đảo, mày sẽ bị thủ tiêu.
-V.V.
Những lời chửi bới, hăm dọa đã được réo lên nhiều lần trong đêm 10/6/03 và những đêm kế tiếp qua máy điện thoại.  Trên màn ảnh nhỏ của máy nhắn, hiện lên những số 639-166-1095, 639-163-6126 v.v.  Tôi đoán họ gọi từ bên đảo, vì băng thu âm ghi những tiếng ồn ào “Bên đó là đêm rồi, không ai bắt đâu”.  Tôi hình dung những bộ mặt hung dữ mà tôi đã gặp đâu đó, trong nước cũng như ngoài nước.  Những khuôn mặt vênh váo, kèm theo đôi mắt láo liên, lời nói hàm hồ, tung tóe nước bọt như muốn ăn tươi nuốt sống thiên hạ; nhưng khi đụng độ với pháp luật, mắt la mày lét, mặt xanh hơn cả tàu lá chuối non.  Đó là hệ lụy của 1000 năm Bắc thuộc, 45 năm Trịnh Nguyễn phân tranh, 100 năm Tây đô hộ, và 30 năm nội chiến Quốc Cộng.
Tự nhiên tim tôi se lại.  Niềm thương xót những người cùng huyết thống tràn dâng trong huyết quản.
Cùng lúc, tôi nhận điện thư, thư nặc danh hăm dọa tố cáo tôi là cộng sản nằm vùng. Họ sẽ tố cáo với chính phủ VNTD của ông Nguyễn Hữu Chánh, dù tôi có trốn lên Trời hay xuống địa ngục, cũng không thoát khỏi lưỡi hái tử thần của ban Ám Sát thuộc chính phủ.
Thấy vậy, Ninh hỏi tôi:
-Chúng cháu chỉ lo cho chú!
-Hoạt động xã hội là phải chấp nhận những hệ lụy.  Chú chỉ sợ làm phiền các cháu, trong đêm khuya khoắt mà điện thoại cứ réo vào.
Những diễn biến trên đã xẩy ra, sau khi nhật báo Người Việt số 6392 đề ngày 8/6/03 đăng bài trả lời của tôi với tựa đề do báo đặt “Một tiếng nói khác về đồng bào thuyền nhân tỵ nạn ở Phi”.

* * *

Ngày 15/5/03, tôi lái xe Nissan cũ - đời 90 - xuống Nam Cali.  Trung bình xe đò Hoàng đi 7 giờ, tôi phải đi 11 giờ vì tôi hay dừng chân tại nơi nghỉ (rest area), và  những thắng cảnh như hồ San Louis  bên cạnh SH 152, hồ Castaic bên cạnh I 5.  Mục đích của chuyến đi là vừa dự đám cưới cháu Nguyệt Cầm, vừa nghỉ hè tại nhà cháu Hùng ở Huntington Beach.
Trên đường đi, tôi ghé nhà anh Tế ở Upland nghỉ 3 ngày.  Chiều chiều, đứng trên cầu vượt đường Camp, nhìn xuống xa lộ I 10 gồm 6 làn xe mỗi chiều, xe con cũng như xe tải phóng với tốc độ 100 dặm/ một giờ giữa 2 bờ tường chắn tiếng động cao 12 m, làm tôi liên tưởng tới con suối Nam nhỏ bé, dễ thương, hiền hòa của Làng.
Ngày 19/5, tôi tới nhà cháu Hùng,  mình tôi ở trong một biệt thự lầu 4 phòng, chỉ cuối tuần, vợ chồng cháu mới về nghỉ.  Nhà cách bờ biển chừng 2 lốc (block) dài,  đi bộ dễ dàng ra bãi.  Huntington Beach mát hơn Santa Ana, có sương mù vào buổi sáng.  Mỗi buổi chiều, tôi đạp xe ra bờ biển, càng đạp  về phía bắc, càng gặp nhiều vách đá / đất thẳng đứng.  Ngoài khơi, dàn khoan dầu hoạt động, trong bờ, đầy dẫy những máy bơm dầu gật gù, nước Mỹ quả là giàu mạnh!  Trên bãi cát là những lò sưởi xây sẵn, từng cặp trai gái đem theo túi ngủ sưởi ấm nhau vừa bằng hơi thở, vừa bằng than hồng.  Gần nhà là Hyatt Resort & Spa, trung tâm nghỉ mát nổi tiếng.  Cách ngày, tôi đến đây đọc sách, tâm hồn thư thái, phóng tầm mắt ra khơi, phía bên kia Thái Bình Dương là làng VN đang nổi sóng.
Trong suốt thời gian ở Nam Cali, tôi thường ra quán cơm chỉ Tân Phát, trong khu siêu thị T K Noodle, mua đồ ăn về nhà, mỗi món chỉ 1 đ. Thấy tôi áo quần bảnh bao, mua toàn đồ ăn bình dân, bà bếp tưởng tôi thất nghiệp dài hạn, nên lần nào, bà cũng lèn chặt đồ ăn và dặn tôi đừng cho cô chủ thấy.  Vì không có 25 xu thối, cô chủ đề nghị tôi lấy thế tờ báo Người Việt (NV).  Nhờ vậy, tôi được biết một cuộc hội thảo về tình trạng đồng bào tị nạn tại Phi Luật Tân sẽ được tổ chức tại phòng sinh hoạt nhật báo người Việt vào 2 giờ chiều thứ hai ngày 26/5/03.
 Trước đây, ban đại diện làng có gửi cho tôi một điện thư, nôi dung như sau: “Mới đây có tin đồn xôn xao rằng là ông Nguyễn Nam Lộc có lên đài phát thanh ở Cali nói rằng bộ Ngoại Giao và di trú Mỹ đồng ý cho bảo lãnh 2000 người Việt ở Phi.  Tin này có chính xác không?  Tụi em rất mong sự giúp đỡ của anh càng sớm càng tốt”, (ký tên LN). Sau đó, tôi gọi điện tới văn phòng ông Nam Lộc, vị đại diện cho biết: “MỚI ĐANG VẬN ĐỘNG THÔI!”.
Để có bạn đồng hành, tôi mời anh V., T., X., Th. cùng đến tham dự.  Đúng 2 giờ, tôi là quan khách đầu tiên có mặt tại phòng họp báo N V, trong khi đó ban tổ chức còn đang xếp ghế, chuyên viên ánh sáng đang bắt đèn.  Trước khi khai mạc, tôi rỉ tai anh V. ngồi bên:
-Phần đông khán giả là những người ủng hộ LS Hội, dù họ nói sai, ta cũng không phản đối, chỉ đạt những câu hỏi thật cần thiết.
-Nhất trí.
Số người tham dự khoảng 120.  Sau phần thuyết trình của LS Hội, tôi xếp hàng để tới phiên mình đặt câu hỏi:
-Đến bao giờ đồng bào mới đi định cư?  Trong khi bên này chúng ta mới vận động, một ăn chín thua như LS cho hay; sang tới đảo, tin đồn đã trở thành “bộ Ngoại Giao Mỹ đã chấp thuận cho 2000 người đi định cư tại Hoa Kỳ” khiến đồng bào hoang mang dao động, bán nhà, bán xe.
Câu hỏi này đã được ông Nam Lộc hứa sẽ nhờ đài VOA, BBC cải chính, vì đồng bào bên đảo bắt được luồng sóng này.
Kết quả cuộc hội thảo đã được ông Nguyên Huy, đăng trên nhật báo N V số ngày 30/5/03 với tựa đề “Chúng ta không quên đồng bào tỵ nạn tại Phi”. Bài báo cũng như hình ảnh trình chiếu trong cuộc hội thảo có phần không phản ảnh trung thực đời sống của đồng bào ta tai Palawan.
Trước khi có quyết định “nên hay không nên trả lời”, tôi suy nghĩ lung lắm.  Nếu lên tiếng, chắc chắn tôi sẽ bị bôi nhọ, chửi bới, hăm dọa, nhiều khi còn nguy hiểm đến tính mạng do bọn người quá khích, như tôi đã chứng kiến biết bao nhà báo, nhà văn bị đánh trọng thương, hoặc sát hại cũng vì muốn nói lên sự thực.  Còn lấy mũ ni che tai là con đường bình an vô sự nhất, làm như vậy là trái với lời dạy của thánh hiền  “kiến nghĩa bất vi vô dũng giã”.  Thôi đành nói lên một lần để cắt bỏ một ung nhọt đã mưng mủ từ 14 năm nay, dù phải chấp nhận mất mát, đau thương.
Cái khó bây giờ là làm thế nào để báo N V chịu phỏng vấn.  Nếu không người giới thiệu trước, chưa chắc gì họ đã tiếp mình, hoặc tiếp một cách miễn cưỡng, cho xong chuyện.  Tôi gọi điện thoại về San Jose, cũng như tiếp xúc với các bạn bè ở Nam Cali xem có ai quen ông Nguyên Huy không.   May vào giờ chót, anh Th. cho biết anh có biết sơ sơ Nguyên Huy và cố gắng xin cho tôi một cái hẹn.  Đang dạo chơi tại công viên Huntington Central Park, tôi nhân được điện thoại cầm tay reo:
-Moa đã xin được cái hẹn cho toa vào hồi 4 giờ chiều ngày 3/6/03.
Trước khi gặp báo Người Việt, tôi xin đặc phóng viên Ngọc Phong của báo Diễn Đàn Giáo Dân một cuộc phỏng vấn bỏ túi, anh đồng ý.  Anh  cũng là một trong nhiều ký giả có mặt tại cuộc họp báo N V.
Theo sự chỉ dẫn của Yahoo, ngày 2/6/03, tôi lái theo xa lộ 5 và trực chỉ tới nhà anh tại Dana Point, một thị trấn cảng nằm sát bờ biển với vách đồi thẳng đứng phủ đầy hoa cỏ vàng.  Chúng tôi là bạn cũ hồi trung học, nên cuộc nói chuyện rất thân tình, cởi mở (X. phụ chương 10.1).  Sau khi dùng trưa, món  phở do anh  nấu, tôi cáo từ để tối nay còn chuẩn bị viết bài trả lời.
Ngày 3/6 là ngày quá bận rộn. Sáng sớm, tôi lại nhà anh Thiệp nhờ đánh máy hộ.  Máy điện toán nhà hư, tôi chở anh tới  tiệm Vietnam Internet Center do tiến sỹ N. T. T. làm chủ.  Gặp bà ở quầy hàng, tôi chào bà:
-Hai người chúng tôi muốn đánh một thư tiếng Việt.
-Hai người phải thuê 2 máy.
Chỉ cần một máy, bạn tôi đánh, tôi đọc.
-Không được!
Thấy thái độ không mấy thân thiên, chúng tôi rút lui,  đành đến nhờ máy vi tính của một người bạn khác vậy.
Trong khi đánh máy, tôi nhân được điện thoại của anh V.:
-Anh có muốn lên đài không?
-Thú thực với anh, từ thủa cha sinh mẹ đẻ đến giờ, chưa bao giờ lên đài cả, nhưng đài nào vậy?
Đài Kitô Hữu, tôi cho số điện thoại của anh Tùng để anh liên lạc với anh ấy.  Tôi  gọi ngay cho anh Tùng:
-Tôi là Hợp, bạn của anh V.
-Sáu giờ chiều nay, mời anh tới đài “Sống trên đất Mỹ” ở đường..
-Xin anh cho biết câu hỏi trước.
-Dễ mà! như mình nói chuyện với nhau.
Chưa kịp hỏi thêm, máy cúp, thôi cũng đành nhắm mắt đưa chân.
Đánh máy xong, chỉ còn vừa đủ thì giờ chạy tới ông Nguyên Huy, báo N V.  Ông tiếp tôi ân cần niềm nở. Tôi trình bày sinh hoạt của làng VN tại Palawan trong quá trình làm thiện nguyện từ tháng giêng năm 1999 cho đến nay.  Có một câu hỏi quan trọng mà ông ngập ngừng không tiện nói ra: 
-Ông đại diện phe nào?
-Tôi chẳng thuộc phe nào, tôi đến đây với tư cách thiện nguyện viên độc lập ( đúng ra tôi phải nói ra ngay từ đầu để người phỏng vấn dễ dàng đối thoại).  Sau khi nói chuyện xong, ông xin phép chụp hình đăng báo.  Bài báo được đăng trên nhật báo Người Việt số 6392 ra ngày 8/6/03 dưới nhan đề “Một tiếng nói khác về đồng bào thuyền nhân tị nạn tại Phi”;  đồng thời bái báo trên cũng được phóng trên trang nhà < www.nguoi-viet.com>, kèm theo địa chỉ nhà, điện thư,  và số điện thoại của tôi, (X phụ chương 10.2).  Bài trả lời của tôi ghi rõ tên người thật, việc thật để mọi người dễ dàng kiểm chứng.
Phỏng vấn xong, tôi chạy cấp tốc lại đài. Hôm nay, tôi mất ngủ trưa vì tinh thần căng thẳng.  Hai cuộc phỏng vấn cho một buổi chiều!
Hồi trước, tôi có dịp thăm đài phát thanh Saigòn, đài truyền hình CNN tại Georgia, chắc đài Sống trên đất Mỹ tối thiểu cũng phải có ban này ban kia.  Nếu không có bảng hiệu treo trên tường, người ta dễ lầm tưởng đây là tiệm tạp hóa bày bán đủ thứ, nào là trà, rong Nhật, nào là nước hoa đủ hiệu.  Bước vào, tôi  gặp ngay ông Giám Gốc, người to lớn vạm vỡ và cô H.K., nhân vật mà báo Saigòn nhỏ đề cập tới nhiều.  Trong phòng vi âm chỉ có 3 người: anh Tùng, anh Toan và tôi.  Sự hiện diện của anh Toan, bạn học Trung Linh cũ cũng làm tim tôi bớt hồi hộp.  Cái ống nghe ở tai cũng làm tôi khó chịu.  Họ không đạt câu hỏi như tôi mong đợi, mạnh ai người ấy nói.  Tôi không quen với quần thảo theo kiểu này, nên bỡ ngỡ ra mặt, không chủ động được.
Buổi hội thảo kéo dài một giờ. Sau đó, anh Toan đãi tôi tại nhà hàng Ưng Thi đường Bolsa, chỉ có tiệm này mở về khuya.  Thức ăn nào ăn không hết, tôi xin phép được “to go”, mua thêm 1đ cơm nữa là tôi có đủ 3 bữa ăn ngày mai.
Sau 3 tuần nghỉ hè đầy sôi động, tôi trở lại San Jose ngày 5/6/03.  Chưa kịp nghỉ ngơi cho lại sức, tôi nhận liên tiếp điện thoại, điện thư, thơ nặc danh chửi bới hăm dọa như đã trình bày trong phần mở đầu.  Tuy nhiên, tôi cũng nhận được một số điện thư đầy khích lệ từ bên đảo:
-Thư của chủ tịch Chế Nhật Giao đề ngày 9 và 10/6/03, trong đó có đoạn: “Anh em rất cảm kích tấm lòng và thì giờ anh dành cho đồng bào và làng VN”, “Những anh em mong mỏi thường trú rất cần những người như anh nói lên sự thật cho kiều bào tại Hoa Kỳ được tỏ tường.  Anh em đọc bài phỏng vấn của anh rất ưng ý, chính xác, trung thực”.
Thơ của anh NL đề ngày 17/6/03: “Những kẻ đặng chim bẻ ná, đặng cá quên nôm khiến cho những người thi ân phải lắc đầu ngao ngán.  Họ ném đá dấu tay, rêu rao đòi đánh đòi đập, nhưng chẳng có tên nào vỗ ngực xưng tên.  Em biết rằng anh chẳng bao giờ nao núng khi nói lên sự thật
-Thư của chị TN đề ngày 26/6/03: “Em đã đọc kỹ bài phỏng vấn Anh, em mới thấy việc Anh làm dù nguy hiểm cho cá nhân mình, nhưng rất cần thiết để cộng đồng VN ở Mỹ hiểu rõ sự việc hơn”.
-Thư của anh TT đề ngày 4/7/03: “Anh thực tâm lo lắng cho đồng bào Việt ở Phi và làng VN, nhưng ngược lại một số người oán ghét anh.  Tôi nghĩ anh cũng đã hiểu về tư cách của họ.  Xin anh đừng bận tâm về việc này, bên anh luôn có những người nhìn thấy những nghĩa cử của anh đã công hiến cho cộng đồng người Việt và làng.”
-Thơ của NV, một người trẻ, đề ngày 21/10/03: “Trong cuộc sống hiện tại, hầu hết mọi người đều tranh thủ cho mình, riêng bác thì lại tranh thủ cho người khác.  Bác thật là gương sáng cho chúng cháu noi theo.  Bác đã làm những việc mà khi nhắc đến làm cháu cảm thấy hãnh diện là người Việt Nam.  Đối với cháu, bác là hình ảnh của bài hát “you are the wind beneath my wings”.
-Thư của cha Francis đề ngày 15/9/03: “Xin Chúa ở với anh trong cuộc đời hy sinh tận tụy cho tha nhân”.
-Thư của Sơ Pascale đề ngày 21/10/03: “Sự hiện diện của anh trong đời tôi cũng như của dân làng là một hồng ân và biểu hiệu của Thiên Chúa quan phòng”.
-Và nhiều thư khác nữa.
Đọc xong những thơ trên, tôi gục đầu xuống bàn khóc, những giọt nước mắt hy vọng từ từ rớt xuống ki bo.  Lạy Chúa! Chúa đã vực tôi dạy qua  bàn tay của những người anh em bé nhỏ này
Tôi chỉ ngước dạy cho đến khi  chuông điện thoại reo.  Bạn tôi từ Upland gọi:
-Sao anh không đem trình  cuộn băng ghi âm, và những điện thư cho FBI.
-Chưa trình, vì muốn cho những người hăm dọa một cơ hội để suy nghĩ lại hành động của mình.  Chưa đi định cư mà đã giở trò khủng bố, thì liệu nước thứ ba nào dám nhận họ.
-Anh có sợ không?
-Nếu sợ, tôi đã không lên tiếng.  Anh thử nghĩ xem có người dân Cali nào sợ ban Ám Sát của chính phủ NHC.  Nếu sau này tôi không sang làng để tiếp tục công tác, hoàn toàn không phải vì sợ thủ tiêu như đã ham dọa, nhưng vì lý do khác như sức khỏe yếu kém của thiện nguyện viên hay ngân khoản tài trợ dự án khiếm khuyết.  Điều này tôi đã trình bày trong buổi họp Liên Hội tại làng ngày1/3/03.
Sau khi dự thánh lễ chúa nhật ngày 16/5/03 tại nhà thờ St Patick, lễ Chúa Ba Ngôi cũng là ngày của Cha (Father’s day), tôi quyết định thiêu huỷ tất cả cuộn băng và điện thư vì họ không biết việc họ  làm, những câu chửi bới được hoàn về chủ nhân của chúng. 
Ngoài ra, qua thư ngỏ và điện thư, tôi đề nghị với LS Hội 2 giải pháp sau:
-a)Vận động tái định cư nhưng không chống dự luật thường trú, *(nếu chẳng may rớt thanh lọc, đồng bào vẫn còn có nơi trú thân).  Qua điện thư gửi cho tôi ngày 25/6/03, anh phản bác kịch liệt, gay gắt đề nghị này với lập luận “ vô thường trú nhân sẽ không được đi định cư theo diện nhân đạo”.  Khi thảo luận một vấn đề gì, chúng ta nên nhìn sự việc dưới nhiều khía cạnh khác nhau hầu tìm ra một giải pháp khả thi nhất.  Tùy theo cách suy nghĩ, chúng ta có thể nghiêng về lập luận “Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ” hay “ thiểu số phải hy sinh cho đa số “, nhưng tuyệt đối không dùng thủ đoạn khủng bố để trấn áp đối phương, hãy thảo luận trong tinh thần danh ngôn “Tôi không đồng ý với quan điễm của quý vị nhưng tôi sẽ chiến đấu tới cùng để bảo vệ quý vị nói ngược lại quan điểm của tôi”
-b)Thông tin cần trung thực.  Cũng trong thư nói trên, anh viết: “Trong khi làm việc, cháu sẽ cố gắng nghe theo lời chú, cần thông tin trung thực để tránh ngộ nhận”.
Tình hình càng ngày càng căng thẳng, truyền đơn biểu ngữ trải khắp làng.  Giám Đốc CADP cho biết: “Một tuần nay, tôi nhận không biết bao nhiêu nguyền rủa trách mắng, vu khống tồi tệ trên, internet, cũng như qua text phone, cell phone. Gặp tôi tại Thượng Viện, họ còn chỉ mặt tôi và đòi giết tôi.  Họ đã áp đảo và khủng bố những người dám chọn con đường thường trú”.
  Một số người dự định phá làng vì tin đồn vô căn cứ “có làng thì chính phủ Mỹ sẽ không nhận cho tái định cư”.  Cũng có tin đồn “phái đoàn Mỹ sẽ sang tái thanh lọc từ 15/8 – 30/8/03 và có thể bốc đi hết” làm dân chúng hồ hởi, ăn mừng, bán hết đồ đạc, sang cửa tiệm v.v.  Ngày 30/8 đã qua, chẳng thấy phái đoàn Mỹ nào cả.  Bây giờ lại đồn, từ 15/9 – 20/9 phái đoàn sẽ sang. Rồi ngày 20/9 cũng qua đi!  Từ hơn 6 năm nay, họ đã chuẩn bị lên đường 12 lần, trung bình 6 tháng / một lần.
 Trong khi đó, ban Đại Diện ngoài phố ra thông báo ngày 8/703 phủ nhận sự đại diện của CADP, từ khước sự giúp đỡ của Giáo Hội trong việc vận động xin thường trú.  Khi bị cưỡng bách hồi hương năm 1966, chính họ đã năn nỉ xin Giáo Hội can thiệp cho họ được ở lại, giờ đây lại nói khác “ý nguyện chúng tôi là muốn định cư nước thứ ba”.
Ôi chua xót thay! những ân huệ mà Giáo Hội  dành cho thuyền nhân đã trở thành nguyền rủa, oán hờn.
Trong lúc tim  nhức nhối, tôi nhận được báo Thế Giới Ngày Nay số 180 do ông chủ nhiệm gửi tặng, trong đó có bài  dài 3 trang do ông Sơn Tùng viết mang tựa đề “Người Việt tỵ nạn tại Philippines, thực tại và ảo tưởng”, với phần kết như sau:
“Sau khi thu thập mọi dữ kiện và nghe tiếng nói của những người liên hệ, chúng tôi nhận thấy “chưa có ánh sáng ở cuối đường hầm” về việc tái định cư số thuyền nhân Việt Nam đang ở Phi.  Trước mắt, chỉ có những người có thân nhân ruột thịt ở Hoa Kỳ bảo lãnh có thể được di cư sang Mỹ trong những chương trình di dân thông thường và sẽ phải chờ đợi một thời gian lâu dài và khi đến Mỹ sẽ không được hưởng một trợ cấp nào trong thời gian 10 năm vì người bảo lãnh có trách nhiệm trợ giúp thân nhân dược bảo lãnh.  Có lẽ đây là lý do khiến rất ít người ở Mỹ làm thủ tục bảo lãnh thân nhân tại Phi.
Trong khi ấy, luật thường trú được thông qua và ban hành sẽ là một cải thiện quan trọng trong đời sống của người Việt tại Phi, và- như bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ đã xác định- sẽ không phải là một trở ngại cho việc tái định cư tại Mỹ.  Dĩ nhiên là khi có luật này, không phải tất cả người Việt tại Phi đương nhiên là thường trú nhân.  Ai muốn, thì nạp đơn xin thường trú, ai không muốn thì thôi.  Không nên chống đối gây xáo trộn và khó khăn cho đời sống chung, và tạo cảm nghĩ không tốt đẹp đối với đất nước và dân tộc Phi đã hào hiệp dang tay đón nhận hàng trăm người chạy trốn cộng sản kể từ khi miền Nam Việt Nam sụp đổ vào năm 1975.  Di cư sang Mỹ hay Úc là ước mơ tự nhiên, nhưng có nên làm buồn và tỏ ra vô ơn với đất nước đã cưu mang chúng ta trong lúc hoạn nạn?  Chưa kể việc làm của những người tin vào tin đồn chỉ là hành động “thả mồi bắt bóng”.
Giữa ảo tưởng và thực tại, chúng tôi nghĩ người Việt đang ở Phi nên chọn thực tại.  Đây là những thuyền nhân ra đi muộn màng, khi  “tình thương của thế giới đã mỏi mệt” đối với nạn nhân của chế độ cộng sản.  Thế giới Tự do đã quay lưng lại với người tỵ nạn Việt Nam.  Những thuyền nhân ở Phi đã rớt thanh lọc, và đã quyết định không trở về Việt Nam, một chọn lựa dứt khoát khi họ ra đi để chọn tự do.  Chính phủ Phi đã tỏ ra nhân đạo, không cưỡng bách hồi hương thuyền nhân và lập ra làng Việt Nam với sự chăm sóc trong tinh thần bác ái của các nhà tu tại đây.  Đất Phi là đất lành và tự do, dân tộc Phi hiền hòa, văn hóa Phi không khác biệt lắm với văn hóa Việt Nam, khí hậu cũng tương tự.  Tại sao nơi đây không thể là quê hương thứ hai của người Việt đã mất quê hương?  Người Việt ở Phi không phải là những người bị bỏ rơi dù không nước thứ ba nào khác nhận họ tái định cư.  Ngoài sự giúp đỡ của chính phủ và nhân dân Phi, cộng đồng người Việt ở mọi nơi trên thế giới cũng hướng về Phi trong tình đồng hương và đã đóng góp tiền bạc trợ giúp, tình nguyện sang Phi làm việc xây dựng Làng.  Người Việt tại Phi có thể trở thành một cộng đồng trù phú và vững mạnh, như các cộng đồng Việt Nam tại những nước khác.
Tiện nghi vật chất ở các nước Âu Mỹ có sức thu hút mạnh, nhưng chưa chắc đã là giải pháp cho hạnh phúc con người, nhất là khi nó ở quá xa tầm tay?”
Đọc xong bài báo, tôi thấy nhẹ cả người .

* * *

Đây không phải là lần đầu tiên tôi bị chụp mũ.  Cách đây 9 năm, khi viết bài trên tạp chí Người Dân, tôi đề nghị chuyên viên về thăm đất nước.  Cứ ngồi bên này soạn thảo hết  kế hoạch tái thiết này đến dự án nọ là điều không tưởng, vì bất kỳ công trình nghiên cứu nào phải dựa trên thực tế như địa chất , thủy văn, khí hậu, tài nguyên, nhân lực v.v.  Sau khi bài viết đăng trên Người Dân số 61 tháng 9/95, tôi bị một số người chụp mũ là: hiệp thương, tay sai, xúi thiên hạ đâm đầu vào bụi rậm v.v.  Chung cục,  đa số đều tán đồng quan điểm của tôi.  Nó được phản ảnh trong bài tổng kết của tạp chí có tựa đề “Sao không về”.  Cũng vậy, khi viết sách “Ứng dụng vải và lưới kỹ thuật trong xây dựng công trình”, tôi phải về VN nghiên cứu tại chỗ, xem kỹ thuật mới có thể thích ứng với môi trường việt nam không?  Sách được phổ biến khá rộng rãi trên toàn quốc, nhất là trong giới sinh viên.  Không có tri thức, làm sao có thể đổi mới.
Tôi chỉ là một lữ khách lang thang trên đường về, đắng cay nhiều hơn ngọt bùi.  Tôi chấp nhận mọi hệ lụy của cuộc đời, vì không có con đường nào đi tới vinh quang mà không trải qua những khổ đau , nhục nhằn.  Trong những lúc thất vọng ê chề nhất, tôi chỉ biết kêu: “Lạy Thiên Chúa! xin Ngài đừng bỏ tôi” cũng chính là lúc tôi được vực dậy bởi bàn tay của người anh em bé nhỏ.
Lạy Chúa! Xin cho tôi đầy đủ nghị lực để vác thánh giá đến chặng cuối cùng của đời tôi.
“Con biết đi về đâu tìm hạnh phúc của con.
Con lang thang trên đường đời chỉ thấy đắng cay.
Con cô đơn trên đường về.
Xin cho con thôi buồn phiền vì Chúa là lẽ sống đời con.”
Bài hát “Hạnh phúc đời con” của LM Duy Thiên đã ru tôi vào giấc ngủ.

* Ngày 15/4/04, ông Franklin Drillon, chủ tịch thượng viện Phi tuyên bố: “Người Việt tỵ nạn sẽ được định cư vĩnh viễn tại Phi.  Thêm vào đó, họ có quyền được xin đi định cư ở một nước thứ ba hoặc hồi hương về Việt Nam nếu họ muốn.” (Lời tuyên bố này đã được đăng hầu hết trên các báo chí Việt ngữ hải ngoại)



Xem tiếp
Phụ Chương 10.1: Bài phỏng vấn của DĐGD