Sứ Giả Tình Thương

Hồi Ký của AH Bùi Đức Hợp - Tập 2


Phụ Chương 12.1 : Đi Paris để tìm thấy mình
Phỏng theo 2 câu thơ của vua Tự Đức khóc Bằng Phi:
“Đập cổ kính ra tìm thấy bóng
      Xếp tàn y lại để dành hơi”
tôi đặt đề tựa cho bài viết.  Nhà vua đã có hình, muốn tìm bóng, còn tôi đã có bóng, muốn tìm hình.
Hồi còn mài đũng quần ở bậc tiểu học trường làng, chúng tôi được học và  nghe nói nhiều về nước Pháp, nhất là thủ đô Paris, kinh thành ánh sáng với nhà thờ Đức Bà, đại lộ Saint Germain, vườn Luxemburg, khải hoàn môn, tháp Eiffel, lâu đài Versaille, hội chợ đấu xảo quốc tế.  Những hình ảnh nguy nga và tráng lệ trên đã in sâu đậm vào ký ức tôi. Rồi những chuyện ông tây bà đầm ôm hôn nhau thắm thiết ngoài đường phố đã làm tôi kinh ngạc vì ở thời  ấu thơ của tôi, đàn ông đàn bà nắm tay nhau mà đi  cũng là  chuyện lạ.
Tôi mơ ước một ngày nào thấy Paris bằng hình.  Chờ đến tuổi thất thập, tôi mới có cơ hội thực hiện giấc mơ xa xưa.
 
 

Để có hình ảnh Paris tinh tuyền trong ký ức, tôi phải làm 2 việc:
Thu nhỏ tầm nhìn: Trở lại quê tôi để tầm nhìn thu nhỏ lại, giống như thời thơ ấu.  Quả vậy, lúc đầu nhìn đình chùa, lăng tẩm làng tôi, cái gì cũng nhỏ lại.  Mới ngày nào mấy đứa chúng tôi kiệu nhau lên bắt tổ chim trên nóc đình, giờ đây tôi chỉ cần với tay là chạm tới mái đình.  Lớp học ngày xưa đã được xây lại, hình thống chế Pétain đước thay bằng hình khác.  Những ngày sống tại quê nhà đã giúp tôi quên đi những cao ốc chọc trời, những siêu lộ nhiều tầng, những kiến trúc vĩ đại của Mỹ Quốc.
Loại bỏ trí tưởng tượng: Đọc báo: “Cộng đồng người Việt Nam Cali mới thành lập trên đường Bolsa một thư viện trưng bày nhiều cổ vật “, tôi nghĩ rằng đây là tòa nhà khá lớn.  Nếu nó không bằng 1/10 thư viện của San José, ít ra cũng bằng một góc chợ Lyon. Đến nơi, thư viện chỉ là tầng hai của một căn phố lầu, rộng bằng 2 phòng khách của 1 căn nhà bình thường.  Điều đó đã làm tôi thất vọng.
    Cũng vậy, đối với chùa PD mà  thượng tọa trụ trì nổi tiếng về những hoạt động tranh đấu cho nhân quyền. Trong đầu tôi, chùa ít ra cũng bề thế như chùa Đức Viên, nhưng chùa chỉ là một ngôi nhà ở được hoán cải.
      Sự thất vọng của tôi một phần do tin tức tường thuật không đầy đủ, một phần do trí tưởng tượng nhậy bén của tôi.
Thanh thỏa với 2 sự việc trên, tôi đáp máy bay đi Paris vào mùa xuân năm 2002.  Sau một ngày nghỉ tôi bắt đầu lùng kiếm quyển l’Anglais Vivant, sixième bleue tại các tiệm sách thuộc khu Latin.   Sách này đã mở cho tôi một chân trời mới về nếp sống tây phương trong những năm đầu trung học, mỗi trang sách đều ghi dấu  những kỷ niệm êm đềm thủa học trò.  Hỏi tiệm nào cũng không có, có lẽ sách xưa cả 1/2 thế kỷ, nên không còn tái bản nữa.  Sang ngày thứ ba tôi đi thăm nhà thờ Đức Bà, đại lộ Saint Germain và vườn Luxembourg.
Tôi háo hức muốn nhìn tận mắt nhà thờ Đức Bà (Notre Dame de Paris) ngôi thánh đường đồ sộ, nổi tiếng về chuyện thằng gù của đại văn hào Victor Hugo. Nằm trên đảo Cité giữa dòng sông Seine, thánh đường có sức chứa 9000 người với 2 tháp chuông cao 69m.  Ban đêm tôi trở lại, đứng trên cầu Neuf, nhìn bóng nhà thờ lung linh dưới dòng sông, tôi mới cảm nghiệm được hết sự huyền diệu uy nghi của ngôi thánh đường này.
Từ Notre Dame de Paris, tôi đi bộ tới đại lộ Saint Germain.  Tôi đến thăm nơi đây, không phải vì những cửa hàng sang trọng may đúng mốt Paris nhưng vì những quán café de Flore và café des deux Magots, nơi đây các nhà trí thức và triết gia Pháp như Sartre, Beauvoir, Camus, Malreaux đã tụ tập để luận bàn thời sự.  Quán lúc nào cũng chật ních người, phải cố gắng lắm, tôi mới kiếm được một chỗ ngồi tốt, để hình dung xem góc nào là chỗ ngồi của văn nhân.  Sau một giờ thưởng lãm, tôi thả bộ về phía vườn Luxembourg.
Hồi học lớp Dự Bị trường Jules Ferry, Nam Định, tôi ưa thích thơ thẩn một mình ngoài công viên Paul Bert, công viên khá rộng chạy dài từ tòa Đốc Lý tới đường Paul Bert. Thầy tôi  bảo vườn Luxembourg bên Pháp còn lớn và đẹp hơn nhiều.  Bước đi mà lòng tràn ngập vui sướng,  tôi tới cửa sắt công viên lúc nào không hay.
Cả một biển người, đầy màu sắc, tắm nắng trên thảm cỏ xanh, giữa là hồ phun nước, bao quanh là những hàng cây xanh ngay hàng thẳng lối, cắt tỉa công phu.  Rải rác đó đây là những công trình điêu khắc.  Cảnh vật khéo phô bày như mời gọi tài tử giai nhân dìu nhau vào lối mòn thơ mộng, rợp bóng phong (platane).
Qua ngày thứ tư, tôi đi thăm Khải Hoàn Môn và tháp Eiffel. Bạn có thể sử dụng Metro (xe điện ngầm) đi đến bất cứ nơi nào trong thành phố. Hình ảnh những người soát vé mặc đồng phục, đầu đội kê-pi, ria ghi- đông xe đạp không còn thấy vì tất cả đều đước điện tử hóa từ khâu mua vé đến vào cửa. Tại một nhà ga xép, tình cờ bắt gặp hình ảnh trên, tôi vội lấy máy ảnh bấm lia lịa.
Tôi đến Khải Hoàn Môn vào giờ cao điểm, 12 dòng xe cộ trên 12 đại lộ đổ về đây rồi tuôn chảy ra 12 hướng. Khải Hoàn Môn được xây dựng vào năm 1806, cao 50m, rộng 45m, dày 22m.  Du khách ùn ùn kéo đến từ những ngả đường hầm, họ say mê ngắm nhìn những bức phù điêu gắn trên tường, giữa dòng thác xe xoay tròn quanh ốc đảo.  Tôi lấy xe buýt chạy dọc theo đại lộ Champs Elysées, rộng 66m, để có cảm giác như mình đang chứng kiến cuộc duyệt binh của Pháp vào dịp lễ 14 Juillet. Dời công trường Concorde, tôi lần tới tháp Eiffel bằng Metro.
Tháp Eiffel là một trong 7 kỳ quan của thế giới, xây năm 1887 cao 320m.   Du khách có thể đi bộ hoặc thang máy lên tới đỉnh.  Từ đỉnh, bạn có thể nhìn xa 65 km.  Như một thi sĩ Pháp đã viết: “Tháp Eiffel là một chứng cớ hùng hồn tỏ cho thế giới dân tộc Pháp là một dân tộc muốn lên tận trời cao và muốn sống trên đó“.  Tôi mê phong cảnh quanh tháp, nhất là công viên Champ des Mars với những bụi cây, luống hoa chạy dài cho tới trường Võ Bị.  Tôi ước muốn biến thành cô hái hoa của  Nguyễn Bính để hồn quyện theo phấn hương bay lên ngọn tháp.
Sau một đêm ngon giấc, tôi dậy thật sớm, đáp RER từ ga Ville neuve Le Roi đi lâu đài Versaille, nằm ngoại ô của thành phố.
Nhớ lại giờ Sử Pháp, thầy khen cung điện Versaille của Pháp nguy nga, tráng lệ hơn cung điện triều Nguyễn.  Điều đó cũng dễ hiểu, suốt 2000 năm lịch sử, dân tộc tôi luôn phải đương đầu với giặc ngoại xâm, có thì giờ đâu mà xây những công trình vĩ đại như Pháp, Tàu.
Cung điện Versaille do vua Louis XIV thiết lập, gồm những tòa nhà sắp xếp theo hình chữ V, biểu tượng nghệ thuật kiến trúc tuyệt vời của Pháp vào thế kỷ XVII.   Du khách có thể coi tận mắt những phòng ăn, phòng ngủ của vua, chỗ làm việc của triều đình.  Từ năm 1875-1958, quốc hội Pháp đã dùng nơi đây làm chỗ hội họp.   Cung điện thì đồ xộ, còn cảnh quan đẹp không bút nào tả xiết.  Hồ phun nước kết hợp với thảm cỏ xanh mơn mởn, vườn hoa muôn màu, bụi cây cắt xén công phu, cây xanh rợp bóng tạo nên bức tranh phong thủy hài hòa.  Mỗi hồ phun nước như đảo Tuổi Xanh, con Rồng, Kim Tự Tháp, thần Neptune...đều có sắc thái riêng, khi tỏ khi mờ khiến khách có cảm giác như lạc vào nơi tiên cảnh.
Versaille không những là niềm tự hào riêng của người Pháp, mà còn là di sản tinh thần chung của cả nhân loại.
Tôi dành ngày chót để tham quan Hội Chợ Đấu Xảo Quốc Tế (Foire de Paris) đang mở cửa từ 30 tháng tư - 12 tháng năm.  Hồi còn hoc lớp Đồng Ấu, mỗi khi có gánh xiếc về làng, anh tôi thường kể chuyện “cọp bay, sư tử lộn“ do gánh xiếc của ông Tạ Duy Hiển biểu diễn tại hội chợ đấu xảo quốc tế Paris;  tranh sơn mài của Thanh Lễ cũng được trưng bày nơi đây.  Tôi chỉ trố mắt nhìn, thầm phục những người được cử đi tham dự hội chợ phải là những anh tài của đất nước.  Sau 55 năm, tôi đã đến.  Triệu người ra vào hội chợ mỗi ngày, mỗi tòa nhà trưng bày một loại sản phẩm công, kỹ nghệ, từ bàn ghế, nước hoa cho đến xe hơi đời mới, đồ điện tử...Đông nghẹt người hơn cả là những sân khấu văn nghệ ngoài trời và những hàng quán bán đủ mọi món ăn quốc tế, mùi thịt nướng quyện với hơi rượu vang như mời chào thực khách.
Tôi hỏi chỗ mà trước đây gánh xiếc ông Hiển trình diễn, nhưng không một ai biết; thôi đành đi tìm gian hàng sơn mài của Thanh Lễ vậy.  Gian hàng này không treo cờ, trong khi cách xa đó khoảng 100m, có cả chục cửa hàng treo cờ đỏ sao vàng, bầỵ bán đủ mọi sản phẩm tiểu công nghệ trong nước. Ông tây bà đầm chen chúc nhau hỏi giá. Cô hàng Bắc Kỳ ngượng ngùng nhìn tôi:
- Nhờ bác vui lòng thông dịch hộ cháu.
Hoàng hôn đỗ xuống, du khách  mỗi lúc một đông. Tôi từ giã hội chợ mà sao thấy trong lòng không mấy vui.
*

Paris còn rất nhiều cảnh đẹp khác nữa nhưng lần này tôi chỉ muốn đi coi những gì đã khắc sâu vào  ký ức tôi thủa thiếu thời .
Bỏ qua những rác rưởi, vẽ bậy tại nơi công cộng mà đô thị nào cũng có, Paris vẫn còn đẹp mãi trong lòng tôi, hình trội hơn bóng, mà bóng thì lúc nào cũng đẹp như truyện thần tiên.
Một công trình nghệ thuật, dù có nguy nga tráng lệ đến đâu chăng nữa, chỉ mang vẻ đẹp bề ngoài, cái đẹp chiều sâu đòi hỏi một giá trị lịch sử, một ký ức hoặc nhiều kỷ niệm của thời xa xưa.
Paris của tôi cũng không thể thoát ra ngoài định luật trên vậy.
BÙI ĐỨC HỢP


Xem tiếp
Phụ Chương 12.2 : San Jose có gì lạ không anh