
Sứ Giả Tình Thương
Hồi
Ký của AH Bùi Đức Hợp - Tập 2
Để có hình ảnh Paris tinh tuyền trong ký ức,
tôi phải làm 2 việc:
Thu nhỏ tầm nhìn: Trở lại quê tôi để tầm
nhìn thu nhỏ lại, giống như thời thơ ấu. Quả vậy,
lúc đầu nhìn đình chùa, lăng tẩm làng tôi, cái gì cũng
nhỏ lại. Mới ngày nào mấy đứa chúng tôi kiệu nhau
lên bắt tổ chim trên nóc đình, giờ đây tôi chỉ cần với
tay là chạm tới mái đình. Lớp học ngày xưa đã được
xây lại, hình thống chế Pétain đước thay bằng hình khác.
Những ngày sống tại quê nhà đã giúp tôi quên đi những
cao ốc chọc trời, những siêu lộ nhiều tầng, những kiến
trúc vĩ đại của Mỹ Quốc.
Loại bỏ trí tưởng tượng: Đọc báo: “Cộng
đồng người Việt Nam Cali mới thành lập trên đường Bolsa
một thư viện trưng bày nhiều cổ vật “, tôi nghĩ rằng
đây là tòa nhà khá lớn. Nếu nó không bằng 1/10 thư
viện của San José, ít ra cũng bằng một góc chợ Lyon. Đến
nơi, thư viện chỉ là tầng hai của một căn phố lầu, rộng
bằng 2 phòng khách của 1 căn nhà bình thường. Điều
đó đã làm tôi thất vọng.
Cũng vậy, đối với chùa PD
mà thượng tọa trụ trì nổi tiếng về những hoạt
động tranh đấu cho nhân quyền. Trong đầu tôi, chùa ít ra
cũng bề thế như chùa Đức Viên, nhưng chùa chỉ là một
ngôi nhà ở được hoán cải.
Sự thất vọng của
tôi một phần do tin tức tường thuật không đầy đủ, một
phần do trí tưởng tượng nhậy bén của tôi.
Thanh thỏa với 2 sự việc trên, tôi đáp máy
bay đi Paris vào mùa xuân năm 2002. Sau một ngày nghỉ tôi
bắt đầu lùng kiếm quyển l’Anglais Vivant, sixième bleue tại
các tiệm sách thuộc khu Latin. Sách này đã mở cho
tôi một chân trời mới về nếp sống tây phương trong những
năm đầu trung học, mỗi trang sách đều ghi dấu những
kỷ niệm êm đềm thủa học trò. Hỏi tiệm nào cũng
không có, có lẽ sách xưa cả 1/2 thế kỷ, nên không còn tái
bản nữa. Sang ngày thứ ba tôi đi thăm nhà thờ Đức
Bà, đại lộ Saint Germain và vườn Luxembourg.
Tôi háo hức muốn nhìn tận mắt nhà thờ Đức
Bà (Notre Dame de Paris) ngôi thánh đường đồ sộ, nổi tiếng
về chuyện thằng gù của đại văn hào Victor Hugo. Nằm trên
đảo Cité giữa dòng sông Seine, thánh đường có sức chứa
9000 người với 2 tháp chuông cao 69m. Ban đêm tôi trở
lại, đứng trên cầu Neuf, nhìn bóng nhà thờ lung linh dưới
dòng sông, tôi mới cảm nghiệm được hết sự huyền diệu
uy nghi của ngôi thánh đường này.
Từ Notre Dame de Paris, tôi đi bộ tới đại
lộ Saint Germain. Tôi đến thăm nơi đây, không phải vì
những cửa hàng sang trọng may đúng mốt Paris nhưng vì những
quán café de Flore và café des deux Magots, nơi đây các nhà trí
thức và triết gia Pháp như Sartre, Beauvoir, Camus, Malreaux đã
tụ tập để luận bàn thời sự. Quán lúc nào cũng chật
ních người, phải cố gắng lắm, tôi mới kiếm được một
chỗ ngồi tốt, để hình dung xem góc nào là chỗ ngồi của
văn nhân. Sau một giờ thưởng lãm, tôi thả bộ về
phía vườn Luxembourg.
Hồi học lớp Dự Bị trường Jules Ferry, Nam
Định, tôi ưa thích thơ thẩn một mình ngoài công viên Paul
Bert, công viên khá rộng chạy dài từ tòa Đốc Lý tới đường
Paul Bert. Thầy tôi bảo vườn Luxembourg bên Pháp còn lớn
và đẹp hơn nhiều. Bước đi mà lòng tràn ngập vui sướng,
tôi tới cửa sắt công viên lúc nào không hay.
Cả một biển người, đầy màu sắc, tắm
nắng trên thảm cỏ xanh, giữa là hồ phun nước, bao quanh
là những hàng cây xanh ngay hàng thẳng lối, cắt tỉa công
phu. Rải rác đó đây là những công trình điêu khắc.
Cảnh vật khéo phô bày như mời gọi tài tử giai nhân dìu
nhau vào lối mòn thơ mộng, rợp bóng phong (platane).
Qua ngày thứ tư, tôi đi thăm Khải Hoàn Môn
và tháp Eiffel. Bạn có thể sử dụng Metro (xe điện ngầm)
đi đến bất cứ nơi nào trong thành phố. Hình ảnh những
người soát vé mặc đồng phục, đầu đội kê-pi, ria ghi-
đông xe đạp không còn thấy vì tất cả đều đước điện
tử hóa từ khâu mua vé đến vào cửa. Tại một nhà ga xép,
tình cờ bắt gặp hình ảnh trên, tôi vội lấy máy ảnh bấm
lia lịa.
Tôi đến Khải Hoàn Môn vào giờ cao điểm,
12 dòng xe cộ trên 12 đại lộ đổ về đây rồi tuôn chảy
ra 12 hướng. Khải Hoàn Môn được xây dựng vào năm 1806,
cao 50m, rộng 45m, dày 22m. Du khách ùn ùn kéo đến từ
những ngả đường hầm, họ say mê ngắm nhìn những bức
phù điêu gắn trên tường, giữa dòng thác xe xoay tròn quanh
ốc đảo. Tôi lấy xe buýt chạy dọc theo đại lộ Champs
Elysées, rộng 66m, để có cảm giác như mình đang chứng kiến
cuộc duyệt binh của Pháp vào dịp lễ 14 Juillet. Dời công
trường Concorde, tôi lần tới tháp Eiffel bằng Metro.
Tháp Eiffel là một trong 7 kỳ quan của thế
giới, xây năm 1887 cao 320m. Du khách có thể đi bộ
hoặc thang máy lên tới đỉnh. Từ đỉnh, bạn có thể
nhìn xa 65 km. Như một thi sĩ Pháp đã viết: “Tháp Eiffel
là một chứng cớ hùng hồn tỏ cho thế giới dân tộc Pháp
là một dân tộc muốn lên tận trời cao và muốn sống trên
đó“. Tôi mê phong cảnh quanh tháp, nhất là công viên
Champ des Mars với những bụi cây, luống hoa chạy dài cho tới
trường Võ Bị. Tôi ước muốn biến thành cô hái hoa
của Nguyễn Bính để hồn quyện theo phấn hương bay
lên ngọn tháp.
Sau một đêm ngon giấc, tôi dậy thật sớm,
đáp RER từ ga Ville neuve Le Roi đi lâu đài Versaille, nằm ngoại
ô của thành phố.
Nhớ lại giờ Sử Pháp, thầy khen cung điện
Versaille của Pháp nguy nga, tráng lệ hơn cung điện triều Nguyễn.
Điều đó cũng dễ hiểu, suốt 2000 năm lịch sử, dân tộc
tôi luôn phải đương đầu với giặc ngoại xâm, có thì giờ
đâu mà xây những công trình vĩ đại như Pháp, Tàu.
Cung điện Versaille do vua Louis XIV thiết lập,
gồm những tòa nhà sắp xếp theo hình chữ V, biểu tượng
nghệ thuật kiến trúc tuyệt vời của Pháp vào thế kỷ XVII.
Du khách có thể coi tận mắt những phòng ăn, phòng ngủ của
vua, chỗ làm việc của triều đình. Từ năm 1875-1958,
quốc hội Pháp đã dùng nơi đây làm chỗ hội họp.
Cung điện thì đồ xộ, còn cảnh quan đẹp không bút nào
tả xiết. Hồ phun nước kết hợp với thảm cỏ xanh
mơn mởn, vườn hoa muôn màu, bụi cây cắt xén công phu, cây
xanh rợp bóng tạo nên bức tranh phong thủy hài hòa. Mỗi
hồ phun nước như đảo Tuổi Xanh, con Rồng, Kim Tự Tháp,
thần Neptune...đều có sắc thái riêng, khi tỏ khi mờ khiến
khách có cảm giác như lạc vào nơi tiên cảnh.
Versaille không những là niềm tự hào riêng
của người Pháp, mà còn là di sản tinh thần chung của cả
nhân loại.
Tôi dành ngày chót để tham quan Hội Chợ Đấu
Xảo Quốc Tế (Foire de Paris) đang mở cửa từ 30 tháng tư
- 12 tháng năm. Hồi còn hoc lớp Đồng Ấu, mỗi khi có
gánh xiếc về làng, anh tôi thường kể chuyện “cọp bay,
sư tử lộn“ do gánh xiếc của ông Tạ Duy Hiển biểu diễn
tại hội chợ đấu xảo quốc tế Paris; tranh sơn mài
của Thanh Lễ cũng được trưng bày nơi đây. Tôi chỉ
trố mắt nhìn, thầm phục những người được cử đi tham
dự hội chợ phải là những anh tài của đất nước.
Sau 55 năm, tôi đã đến. Triệu người ra vào hội chợ
mỗi ngày, mỗi tòa nhà trưng bày một loại sản phẩm công,
kỹ nghệ, từ bàn ghế, nước hoa cho đến xe hơi đời mới,
đồ điện tử...Đông nghẹt người hơn cả là những sân
khấu văn nghệ ngoài trời và những hàng quán bán đủ mọi
món ăn quốc tế, mùi thịt nướng quyện với hơi rượu vang
như mời chào thực khách.
Tôi hỏi chỗ mà trước đây gánh xiếc ông
Hiển trình diễn, nhưng không một ai biết; thôi đành đi tìm
gian hàng sơn mài của Thanh Lễ vậy. Gian hàng này không
treo cờ, trong khi cách xa đó khoảng 100m, có cả chục cửa
hàng treo cờ đỏ sao vàng, bầỵ bán đủ mọi sản phẩm
tiểu công nghệ trong nước. Ông tây bà đầm chen chúc nhau
hỏi giá. Cô hàng Bắc Kỳ ngượng ngùng nhìn tôi:
- Nhờ bác vui lòng thông dịch hộ cháu.
Hoàng hôn đỗ xuống, du khách mỗi lúc
một đông. Tôi từ giã hội chợ mà sao thấy trong lòng không
mấy vui.
*
Paris còn rất nhiều cảnh đẹp khác nữa nhưng
lần này tôi chỉ muốn đi coi những gì đã khắc sâu vào
ký ức tôi thủa thiếu thời .
Bỏ qua những rác rưởi, vẽ bậy tại nơi
công cộng mà đô thị nào cũng có, Paris vẫn còn đẹp mãi
trong lòng tôi, hình trội hơn bóng, mà bóng thì lúc nào cũng
đẹp như truyện thần tiên.
Một công trình nghệ thuật, dù có nguy nga tráng
lệ đến đâu chăng nữa, chỉ mang vẻ đẹp bề ngoài, cái
đẹp chiều sâu đòi hỏi một giá trị lịch sử, một ký
ức hoặc nhiều kỷ niệm của thời xa xưa.
Paris của tôi cũng không thể thoát ra ngoài
định luật trên vậy.
BÙI ĐỨC HỢP