Sứ Giả Tình Thương

Hồi Ký của AH Bùi Đức Hợp - Tập 2


Phụ bản II: Nhà văn Bùi Ngọc viết về "Hai Lần Trỗi Dậy"

Tôi đọc “Hai Lần Trỗi Dậy”  của Bùi Đức Hợp.

  
Tác phẩm của anh là tập Hồi Ký. Sách trình bày trang nhã, do chính anh xuất bản vào năm 2001. Khổ 8.5” x 5.5” xinh xắn như một cuốn tiểu thuyết, dày 258 trang, gồm 3 chương chính với 14 tiết mục, nhiều phụ chương và 1 phụ bản. Ngoài ra rải rắc khắp tác phẩm là một số hình ảnh và tranh vẽ. Bìa in láng bóng với màu sắc rực rỡ. Hình bìa trước là một người đàn ông đi xe đạp trên một con đường lát gạch dọc theo bờ sông. Phía dưới tấm hình viết: “Trên đường về quê”. Người đàn ông này có lẽ chính là tác giả, anh Bùi Đức Hợp.
    Khi còn ở trung học Hồ Ngọc Cẩn, anh Hợp học trên tôi một lớp. Anh học xuất sắc trong lớp, ban Toán, cho nên nhiều người biết tên anh. Hồi ấy tôi nghe tên nhưng ít gặp anh. Cho dù trong thời gian ấy tôi gặp anh nhiều lần, lúc này tôi cũng không dễ nhận ra anh, vì từ đó tới nay đã cách xa nửa thế kỷ. Anh hay tôi đã từ một chú bé học sinh trung học trở thành một ông già.
    Bìa phía sau in một bài “nhận định” về tác phẩm. Tác giả bài này là Chính Nhân. Vị này nêu lên nhiều nhận xét quí báu về tác phẩm và tác giả. Theo ông Chính Nhân, những bài viết trong tác phẩm này được coi như những bài học. Đọc tập hồi ký này, ông Chính Nhân nhớ tới những bài học trong Quốc Văn Giáo Khoa Thư  (QVGKT). Đối với tôi, anh Hợp luôn coi những bài học khi còn nhỏ ấy như những “khuôn vàng thước ngọc” cho đời mình.
Nơi trang 14, anh Hợp viết: “ Hồi học lớp Đồng Ấu, tôi dậy thật sớm; từ lầu hai, tôi đọc to những bài học cho cả nhà nghe thấy, nhất là những bài trong QVGKT như: Tôi đi học, Yêu mến cha mẹ, Giúp đỡ cha mẹ, Đứa trẻ có lễ phép, Người học trò tốt, Đi phải thưa về phải trình, Học trò đối với thầy v.v.”.
    Anh còn xác nhận rằng tới lúc này anh còn thuộc nhiều bài trong QVGKT và anh coi những bài ấy như “những điều bổ ích”. Về phương diện này, tôi nhớ một bài viết của anh Nguyễn Đức Tuyên, cũng đăng trong Đặc San Ninh Cơ năm 2001. Anh Tuyên nhắc lại một bài trong QVGKT để khởi đầu cho một đề tài anh muốn nói. Như vậy ít nhiều anh Tuyên đồng quan điểm này với anh Hợp.
Truơc đây tôi đọc một tác phẩm của nhà văn Duyên Anh. Tôi không nhớ rõ tên cuốn sách. Trong đó Duyên Anh ca tụng khá nhiều những bài đọc trong QVGKT. Do đó, tôi nghĩ rằng biết đâu còn nhiều người khác trong lứa tuổi này từng quí mến và nhớ lâu những bài đọc trong tác phẩm cổ xưa kia mà tôi không biết. Tác giả cuốn QVGKT sẽ hài lòng và tự hào vì  lời nói và những khuyên nhủ của ông còn được lưu truyền qua nhiều thế hệ như những bài học giáo dục quí giá.

    Trong bài “Lời nói đầu”, anh Hợp viết một cách khiêm tốn và dễ thương: “Không phải là nhà văn, tôi chỉ biết diễn tả tâm tình mình bằng những lời lẽ đơn sơ, mộc mạc. Điều mà tôi mong mỏi là từ đó, các con, các cháu của tôi rút ra những bài học sống động áp dụng cho chính bản thân”.
    Còn ông Chính Nhân nói về anh Hợp: “văn ông chân thật trong sáng lạ thường, tràn đầy tình người, tình yêu, tình thương, vượt trên hẳn những ái ố hằng ngày chúng ta thường đón nhận”.
    Khi còn là một học sinh trung học, anh Hợp chọn chuyên ngành là Toán và Khoa Học. Lên đại học, anh chọn ngành kỹ sư công chánh. Và sau khi tốt nghiệp, anh luôn sống trong nghề kỹ sư công chánh, từ lúc còn ở Việt Nam, sang tới Mỹ tới khi về hưu. Như vậy cuộc đời anh luôn sống và thân thiện với những con số, kích thước, chính xác hay mẫu mực. Cho nên trong tác phẩm này, mỗi lúc anh đều nêu chính xác thời gian, như “tôi được cấp bằng Kỹ Sư Công Chánh ngày 20/1/1959”. Theo nhận định của một số người, cuộc sống mẫu mực ít thích hợp cho con người nghệ sĩ, như người viết văn. Tuy nhiên nhận định trên đây không đúng với trường hợp của anh Hợp. Vì với lối sống ấy, anh vẫn viết văn trong sáng.
Xin quý vị đọc trang 83. Anh Hợp viết: “Tiếng hót yêu đương của vợ chồng chú chào mào, mùi hoa rừng quyện lẫn với ánh sáng ban mai đánh thức tôi dậy. Tôi nằm nướng lại để thưởng thức âm điệu tuyệt vời của Đất Trời trong những ngày đầu xuân.”
 Chỗ khác anh viết:” Đông là rừng, tây là động. Cảnh trí tĩnh mịch bên ngoài khiến tôi liên tưởng đến quê nhà. Hôm gió mát trăng trong, anh em tôi thường ngủ ngoài trời để tận hưởng múi lúa mới. Hồn tôi như tan biến trong vũ trụ bao la, lấp lánh những giải ngân hà”.
Và trang 67, anh viết:” Qua khung cửa kính lớn, tôi thấy cả bầu trời bên ngoài, rừng phong xen lẫn núi đồi phủ tuyết, xa xa, từng đoàn người trượt tuyết đang len lỏi giữa đồi thông. Tôi say mê chiêm ngưỡng bức tranh thiên nhiên tuyệt tác mà quên cả giờ lên lớp”.
Những đoạn văn bóng bảy và tuyệt vời như trên rải rác khắp trong tác phẩm “Hai Lần Trỗi Dậy” của Bùi Đức Hợp. Ngoài ra anh Hợp con viết một số câu diễn tả về đời mình một cách chân thật như anh viết: “Nước mắt đã theo đuổi cuộc đời tôi, chỉ cần nghe một câu chuyện thương tâm hay một cảnh ngộ đau lòng là nước mắt tôi tràn ra”. Theo tôi, nghề nghiệp đã đưa anh tới cuộc sống mực thước, nếu đúng như vậy, nhưng thật sự anh là người đa sầu và đa cảm. Vì vậy anh dễ xúc cảm trước những “cảnh mây gió” hay vẻ đẹp thiên nhiên để rồi viết lên những câu văn tuyệt đẹp và đáng ghi nhớ trong tác phẩm của anh.

Quả thật anh Hợp là một công chức gương mẫu và đứng đắn. Anh công khai phá bỏ những thói quen thiếu tốt đẹp làm như hại guồng máy hành chánh. Việc hối lộ đã ăn sâu vào lòng một số người. Tới phiên anh, anh khước từ. Trang 23 nói rõ việc này: “Bác trình tôi hồ sơ xin phép mở cây xăng tại Gia Liêu, QL 1, kèm theo 5000đ. Tôi cầm hồ sơ và trả lại tiền...”.
Anh Hợp làm việc trong tinh thần “công bộc”. Anh viết thêm:” Khi ra trường, tôi tự nhủ:’ Cần, kiệm, liêm, chính phải là kim chỉ nam cho mọi hoạt động”.
Sự mực thước ấy còn được anh đem áp dụng cho cuộc sống gia đình của anh. Anh đã chọn “người bạn đời” theo khuôn mẫu này. Trang 31 anh viết: “Nhiều nhà giầu sang, có thế lực muốn gả con cho tôi, tôi khước từ khéo. Mục đích của tôi là tìm người vợ hiền, suốt đời chỉ biết hy sinh cho chồng để tôi có thì giờ lo việc xã hội”.
Và anh chỉ dùng mấy hàng nói về “chị Hợp”. Cũng ở trang 31, anh viết:”Nhà tôi, quê ở Thủ Đầu Một, Bình Dương, đã cam kết như vậy trong những bức thư tình. Đám cưới được cử hành trước sự chứng kiến của bác Nghị”.
Với những hàng chữ trên, có thể một số người tưởng anh Hợp sống “khô khan” hay nói cách khác cuộc sống của anh không được nữ giới quan tâm. Những hàng chữ nơi trang 71 nói ngược lại ý nghĩ ấy. Anh viết: “Tại lớp học chùa Bồ Đề, trong giờ giải lao, tóc nàng phủ xuống vầng trán. Nàng trẻ và đẹp, ánh mắt chan chứa yêu thương. Tôi lách đầu và chuyển hướng nhìn về phía tượng Quan Thế Âm Bồ Tát trên tòa sen. Như hiểu ý, nàng đổi ánh mắt từ yêu thương sang mến phục”. Anh Hợp vẫn có số “đào hoa” đấy chứ. Tuy nhiên anh lại yêu “Bồ Tát” hơn yêu “nàng”.

Hai lần anh  bắt buộc phải từ giã quê hương để ra đi. Anh đi tìm cuộc sống mới và lập sự nghiệp với hai bàn tay trắng. Hai lần anh đi một mình. Lần thứ nhất, bỏ quê hương miền Bắc, anh vào miền Nam sinh sống. Lúc này anh cho rằng anh ở vào hoàn cảnh “tứ cố vô thân”.
Vào những ngày đầu tiên ở miền Nam, anh lạc gia đình, thiếu thốn, thậm chí ăn không đủ no. Ở vào hoàn cảnh khó khăn này, anh đã khôn khéo “thương lượng” với bà làm bếp ở nhà thờ Huyện Sỹ để kiếm một bữa ăn bằng đồ ăn dư thừa với giá 5đ, một phân nửa tiền anh được trợ cấp. Hoàn cảnh anh thật tội nghiệp. Biết đâu hoàn cảnh “đau khổ” này đã đưa anh đến ngày thành công ở miền Nam với văn bằng kỹ sư công chánh?
Khi tình hình ở Saigon thay đổi vào năm 1975, anh còn ở lại và làm việc với chế độ mới. Tới năm 1979 anh mới bỏ nước ra đi sau khi vợ anh và hai cháu nhỏ đã tới nước Mỹ bình an. Cho nên anh lại đi một mình. Cuộc hành trình đơn độc này của anh thật cam go và nhiều nước mắt. Ngoài những lời diễn tả trong tập Hồi Ký, anh còn để lại một Phụ bản: Nhật Ký “35 ngày vượt biển và sáu tháng ở đảo”.
Nếu anh không nói rằng anh kể lại chuyện đã qua trong đời mình thì nhiều người không tin rằng anh có thể sống sót để tới Mỹ an lành. Nói như vậy mới biết rõ rằng trong thời gian vượt biển ấy anh gặp quá nhiều gian nan. Biết bao lần tử thần đe dọa anh và những người đồng hành. Do đó cuộc sống con người không phải dễ chết! Hay nói cách khác định mệnh của những người này vẫn còn Đấng Tối Cao che chở.

Qua tập Hồi Ký này, tôi mới nhận ra anh đã góp quá nhiều cho xã hội. Anh đã giúp xây dựng biết bao công trình kiến thiết, từ quê nhà cho tới nước Mỹ. Nhiều công tác xã hội hữu ích anh đã tham gia. Ngoài ra anh còn để lại cho hậu thế một số tác phẩm hữu ích. Những sách chuyên về kỹ thuật ấy anh viết bằng Việt và Anh ngữ.  Số lượng này lên tới mười tác phẩm ngoài tập Hồi Ký mà tôi nói ở đây.
Với tập Hồi Ký “Hai Lần Trỗi Dậy”, theo tôi, người viết muốn tiếp nối công việc của tác giả cuốn Quốc Văn Giáo Khoa Thư thuở xưa, đối với con cháu của tác giả. Bởi vì anh viết trong “Lời nói đầu” rằng: “Điều mà tôi mong mỏi là từ đó các con, các cháu của tôi rút ra những bài học sống động áp dụng cho chính bản thân”.
Đọc xong tập Hồi Ký này, tôi tin rằng tác giả đạt được ước nguyện trên. Biết đâu ảnh hưởng của nó còn đi xa hơn và tới những người trẻ tuổi khác cùng trang lứa với con cháu của tác giả.
Cuối cùng tôi phải nhận rằng cuộc đời anh Hợp gặp nhiều chông gai và đau khổ, nhưng anh vẫn hưởng được đoạn cuối của cuộc đời hạnh phúc. Đúng như câu anh nói: “Tôi đã ra đi trong nước mắt và trở về trong gánh lúa thơm”.
                          

Xem tiếp
Phụ bản III : Nhà văn Trần Ngọc Vân nói về "Hai Lần Trỗi Dậy"