Sứ Giả
Tình Thương
Hồi
Ký của AH Bùi Đức Hợp - Tập 2
Phụ bản III: Nhà văn Trần Ngọc Vân nói về "Hai Lần Trỗi
Dậy"
TÔI ĐỌC HỒI KÝ“HAI LẦN TRỖI DẬY”
của BÙI ĐỨC HỢP
Khoảng
giữa năm 2001, kỹ sư Bùi Đức Hợp, một đồng môn của chúng ta dưới mái
trường Hồ Ngọc Cẩn Trung Linh, Bùi Chu (trong những năm cuối thập niên
40 và đầu thập niên 50), đã giới thiệu với độc giả ở hải ngoại tập hồi
ký “Hai Lần Trỗi Dậy” của anh. Đây là cuốn hồi ký được tác giả trân
trọng dành riêng cho gia đình và thân hữu nên không đề ấn phí. Cá nhân
người viết bài này đã được anh ân cần trao tặng tập hồi ký nhân dịp ghé
San Jose để giới thiệu với độc giả địa phương tập biên khảo “PHAN VĂN
LỢI, Người Là Ai?” và tạp chí Diễn Dàn Giáo Dân, hồi tháng 10 năm 2001.
Gặp lại anh hôm ấy cùng với hai người bạn chung –các anh Vũ Đình Thiệp
(nguyên thẩm phán), Nguyễn Phi Hùng (nguyên hiệu trưởng trung học công
lập Long Khánh)- tự dưng biết bao kỷ niệm của một thời mài đũng quần
tại trung học Hồ Ngọc Cẩn năm xưa lại trở về trong tâm tưởng tôi.
Trên suốt đoạn đường dài hơn 400 dậm từ San Jose trở
về nam California buổi tối hôm ấy, phó mặc cho những người đồng hành lo
chuyện lái xe, dưới ánh sáng mờ ảo từ trần xe tỏa xuống, tôi chúi mũi
vào cuốn sách. Từng giòng chữ, từng trang sách phản dội trong mắt và
trong tâm hồn tôi đầy ắp bóng dáng con người và phong cách Bùi Đức Hợp,
người bạn cùng lớp với tôi trong những năm đệ ngũ, đệ tứ (lớp tám, lớp
chín) và những năm đệ tam, đệ nhị (10, 11 sau này) của mái trường HNC.
Trong hai năm cuối đệ nhất cấp, anh và tôi học chung một lớp. Nhưng khi
chuyển qua đệ nhị cấp, chúng tôi chỉ học chung một số môn vì anh theo
ban toán, giản dị là anh giỏi toán, còn tôi chọn ban sinh ngữ, chỉ vì
dốt khoa học và cũng vì tính ham vui.
Đã hơn một lần tôi có ý định ghi lại những cảm nghĩ
của mình sau khi đọc hồi ký “Hai Lần Trỗi Dậy” nhưng vì quá bận nên
chưa thực hiện được. Và hôm nay, cơ hội đã đến. Đáp lời kêu gọi của
nhóm chủ trương đặc san NINH CƠ, tôi xin được gửi tới quý bạn bài viết
này để trước hết đáp tạ tấm tình bằng hữu trung hậu của anh Bùi Đức
Hợp, thứ đến để giới thiệu với anh chị em cuốn hồi ký của người bạn một
thời, mà qua nó mỗi người chúng ta, nhất là những anh chị em xuất thân
từ HNC Trung Linh trước tháng 7 năm 54, có thể tìm thấy lại được một
phần mảnh đời của chính mình.
Về hình thức, hồi ký “Hai Lần Trỗi Dậy” của Bùi Đức
Hợp dày 256 trang, gồm ba chương: Chương I Lần Trỗi Dậy Thứ Nhất;
Chương II Lần Trỗi Dậy Thứ Hai; Chương III Tuổi Vàng. Cuối mỗi chương
có kèm các phụ bản. Và sau chót là những trang nhật ký ghi lại 35 ngày
vượt biển gian nan và 6 tháng tạm cư ở đảo. Lật qua lật lại cuốn sách
trên tay, tôi bâng khuâng xúc động khi liên tưởng tới mối liên hệ giữa
tác phẩm và tác giả. Toàn bộ cuốn hồi ký, từ hình thức tới nội dung đều
toát lên một cái gì rất hồn nhiên, trong sáng và giản dị –hồn nhiên,
trong sáng và giản dị như chính con người và cuộc đời anh.
Bìa offset bốn màu trình bày thật chân phương, mộc mạc. Dưới tiêu đề
Hồi Ký “Hai Lần Trỡi Dậy” là tấm hình chụp tác giả trên yên xe đạp với
hàng chú thích ‘Trên đường về quê’, nổi bật trên nền màu xanh nhạt. Bối
cảnh tấm hình là một bờ dậu dọc theo lề đường lát gạch đỏ với những
hàng cây xanh lả ngọn trên mặt hồ. Nó dễ gợi cho người thưởng ngoạn về
một cảnh trí quen thuộc nào đó trên một quê hương đã nghìn trùng xa
cách. Bìa sau là cảm nghĩ của Chính Nhân sau khi đọc “Hai Lần Trỗi Dậy”.
Mở vào nội dung hồi ký, trong Lời Nói Đầu, Bùi Đức
Hợp thẳng thắn minh xác “Không phải là nhà văn, tôi chỉ biết diễn tả
tâm tình mình bằng những lời lẽ đơn sơ, mộc mạc. Điều tôi mong mỏi là
từ đó, các con, các cháu của tôi rút ra những bài học sống động áp dụng
cho chính bản thân...”
Suốt từ trang đầu tới trang chót tập hồi ký, người đọc đã thấy được tất
cả điều mà tác giả mệnh danh là những lời lẽ đơn sơ, mộc mạc của anh.
Người ta nói, một tác phẩm có giá trị, một đoạn văn làm xúc động lòng
người không hệ tại ở những lời lẽ câu kỳ, đẽo gọt mà là những ngôn từ
chân thật, trong sáng, phản ảnh trung thực sự việc và tâm trạng người
trong cuộc. Giá trị người đọc tìm thấy xuyên qua 256 trang hồi ký của
tác giả họ Bùi chính là những ngôn từ chân thật, trong sáng như thế.
Nếu quả thực văn là người như quan niệm chung của người đời thì từng
chữ, từng câu trong thiên hồi ký của Bùi Đức Hợp đã vẽ nên trọn vẹn
phong cách và con người anh bạn của chúng ta. Giữa những trang sách,
tôi hình dung ra trước mắt vẻ hiền hòa, chân thật trên gương mặt lúc
trầm tư khi vui nhộn của anh.
Đúng như nhan đề tác phẩm, xuyên qua những tình tiết
trong thiên hồi ký, Bùi Đức Hợp đã cho người đọc thấy được những cố
gắng trỗi dậy không ngừng nghỉ của anh sau hai biến cố mà hầu như những
người đồng trang lứa với anh sinh trưởng ở phía bắc vĩ tuyến 17 đều
trải qua. Đó là biến cố lãnh thổ bị chia hai sau tháng 7 năm 54, và
biến cố cộng sản Bắc Việt tiến chiếm miền nam tháng 4 năm 75. Vì là bạn
lại là một người chứng bên cạnh Bùi Đức Hợp từ những năm còn ở trung
học cho tới thời gian sinh sống ở Sàigòn và sau này trên đất Mỹ, tôi
đánh giá cao về tính xác thật của những sự kiện được anh thuật lại
trong hồi ký. Những điều ghi nhận của Chính Nhân nơi bìa sau tác phẩm
cho rằng ‘nó chỉ có trong những chuyện thần tiên, huyền thoại...’ vì
‘toàn là lý tưởng mộng mơ quá cao, quá xa...’ quả không sai nếu người
đọc không có một thời gian dài quen anh, biết anh để thấy được con
người, tư cách và khả năng đặc biệt nơi anh.
Sau những năm tháng lao đao, lận đận của một học
sinh quê mùa bị thời cuộc đưa đẩy, ném vào miền nam xa lạ, Bùi Đức Hợp
đã vượt thắng được mọi khó khăn trở ngại để liên tiếp gặt hái được
những thành quả vẻ vang. Với cương vị một Kỹ Sư Công Chánh, anh từng
giữ chức vụ trưởng ty tại nhiều tỉnh thị miền nam, sau chót được cử về
trung ương với hai lần xuất ngoại tu nghiệp và những huy chương cao quý
nhận được từ chế độ đương thời. Nhưng rồi biến cố 30-4-75 chụp xuống.
Tất cả những gì anh mơ ước và những gì anh đã đạt được phút chốc bị
tiêu tan. Tác giả hồi ký đã ghi lại tâm trạng của anh nơi trang 35 hồi
ký “Hai Lần Trỗi Dậy” như sau:
“Đêm 30 tháng 4, bên ngọn nến bập bùng trong phòng
tắm đóng kín, tôi đốt từng giấy khen, từng bằng tưởng lệ, từng tấm huy
chương. Mỗi lần ngọn lửa bùng lên, tim tôi thắt lại. Cả sự nghiệp là
đây!!! Tiếng thở dài não nuột từ phòng bên vọng đến càng khiến ruột gan
tôi tan nát!”
Bị kẹt lại quê hương cho đến năm 1979 Bùi Đức Hợp
mới trốn được qua đảo, sau 35 ngày lệnh đênh trên biển, chấp nhận những
dập vùi của giông bão, đói khát và những hành vi dã man vô đạo của bọn
cướp biển. Ba ngày trước lễ Giáng Sinh 1979 anh đặt chân lên đất Hoa
Kỳ. Và một cuộc vật lộn để trỗi dậy lần thứ hai khởi đầu. Dĩ nhiên lần
này gay go và gian khổ hơn nhiều. Giản dị vì anh không còn tuổi trẻ của
25 năm trước lại phải đối diện với những rào cản khó vượt qua về ngôn
ngữ, về phong tục tập quán và thái độ kỳ thị không thể tránh nơi một số
người địa phương.
Nhưng với ý chí, nhân cách và khả năng thượng đế phú
bẩm, chỉ trong một thời gian ngắn Bùi Đức Hợp lại hiên ngang trỗi dậy.
Khác với biết bao bằng hữu phải thay đổi nghề nghiệp, bất chấp những
thử thách trùng điệp vây quanh, anh đã trở lại nghề cũ bằng cửa lớn.
Ngoài những công trình xây dựng trong thời gian phục vụ tại Sở Công
Chánh New Orleans bang Louisiana, anh còn viết nhiều tác phẩm bằng anh
ngữ để chia sẻ kinh nghiệm chuyên môn với đồng nghiệp, khiến người địa
phương phải nể phục và được báo chí Việt Mỹ hết lòng tán thưởng.
Vì thái độ khiêm tốn, trong Lời nói đầu hồi ký, Bùi
Đức Hợp không nhận mình là nhà văn và thú nhận chỉ viết với những lời
lẽ đơn sơ mộc mạc. Nhưng xuyên suốt tác phẩm, người đọc không khỏi ngạc
nhiên khi nhận ra những ưu điểm qua nghệ thuật đặt câu, diễn ý và dàn
dựng, sắp xếp tình tiết trong những biến cố đời anh. Tác giả có lối đặt
câu ngắn, gọn và cô đọng vượt hơn cả một số những cây viết quen thuộc ở
hải ngoại. Một đặc điểm khác với nhiều thiên hồi ký quen thuộc là họ
Bùi đã không thuật lại những chuyện xảy ra theo thứ tự thời gian. Trong
nhiều đoạn anh đã khéo léo bỏ lửng một số chi tiết trong quãng đời
trước để dẫn vào dòng hồi tưởng ở những chặng đời sau khiến cho câu
chuyện trở nên hấp dẫn và mang nhiều ý nghĩa hơn. Thí dụ như đoạn trình
thuật lại những năm tháng kẹt lại trên quê hương sau tháng tư năm 75,
Bùi Đức Hợp đã khéo xen kẽ vào hơn 6 trang (từ trang 45 đến trang 52)
thời gian anh đã tới Mỹ và đang vật lộn với chồng bài vở, tài liệu dầy
cộm để sửa soạn thi PE ở miền nam California. Cũng trong đoạn này, tác
giả hồi ký đã cay đắng thuật lại cảnh thaỵ bậc đổi ngôi mà ông vừa là
nạn nhân vừa là người chứng qua mấy dòng ngắn ngủi sau đây:
“Tôi trình diện và tiếp tục làm việc tại cơ quan cũ,
nha Kế Hoạch Tổng Cục Kiều Lộ lúc này đổi thành Phòng Kế Hoạch Cục Cầu
Đường. Người tùy phái cũ của tôi nay trở thành xếp tôi về mặt tư tưởng.
Ông cắt cử tôi làm những việc đơn giản như nhận và phân phối đồ tiếp
tế: bó rau, miếng thịt. Ông thường tỏ ra thân mật.
- Hôm nay anh Hợp rút thăm được miếng nạc hay miếng mỡ?
- Thưa Thủ trưởng! Miếng mỡ ạ.”
Cũng trong đoạn này, tác giả đã cho thấy những cái may bất ngờ dành cho
những người có lòng nhân hậu như anh (một chủ sự, một trưởng ty phải đi
cải tạo mút mùa trong khi một phó giám đốc lại không ở diện học tập tập
trung):
“Tôi được lệnh trình diện học tập tập trung (ở trung ương, từ cấp Chánh
sự vụ trở lên, ở địa phương từ cấp Trưởng ty trở lên). Tôi hoan hỉ khăn
gói lên đường vì nghĩ rằng chỉ học tập có 7 ngày theo quy định...Một
quan chức có thân hình hộ pháp, ngồi trước bàn giấy, hỏi tôi.
- Anh cấp bậc gì?
- Thưa cán bộ, tôi là Phụ tá Giám đốc.
- Anh không có diện học tập tập trung.
Thấy tôi rầu rĩ, cán bộ cơ quan an ủi tôi: ‘Tôi cho phép anh học tập
tại chỗ’. Sau này tôi mới vỡ nhẽ, ngoài bắc Thư ký có thể là phụ tá
Giám đốc. Còn trong nam, Phụ tá Giám đốc tương đương với Phó Giám đốc”.
Đoạn thuật lại sơ lược những ngày vượt biên (từ trang 56 đến trang 58)
xen vào giai đoạn nóng ruột chờ kết quả kỳ thi PE cũng là một trong
những đoạn đặc sắc của tác giả “Hai Lần Trỗi Dậy”.
Giá trị nội dung hồi ký của Bùi Đức Hợp còn được phát hiện qua những
đóng góp quảng đại không mệt mỏi của anh vào những công tác xây dựng
cộng đồng, cộng đoàn của anh. Cho dù vào năm 1990 anh đã rửa tội theo
đạo Công giáo và sau đó còn nuôi ý định đi tu làm linh mục, nhưng có
thể nói anh là người của mọi tôn giáo vì trong thời gian làm việc ở New
Orleans anh đã mang khả năng chuyên môn để đóng góp không công vào việc
xây dựng chùa cho Phật giáo, thánh thất cho đạo Cao Đài và nhà thờ,
nguyện đường cho Công giáo. Sau khi nghỉ hưu anh còn tình nguyện qua
Phi để thiết kế các công trình xây dựng những tiện nghi cho Làng Việt
Nam.
Trường hợp Kỹ sư Bùi Đức Hợp vào đạo Công giáo cũng là một trường hợp
hy hữu. Nó là hệ quả của những suy tư, khắc khoải trước những thăng
trầm, khổ đau trong cuộc sống. Nó cũng là đích điểm phải đi tới của một
tấm lòng chan chứa yêu thương, đã chứng kiến những trò dâu biển, thay
trắng đổi đen trên đời. Tất cả đã khiến anh suy nghĩ, lựa chọn và
cuối cùng dứt khoát tìm về đạo Chúa, sau những lần dìm ngập tâm tư vào
màu nhiệm khổ đau trên Thập giá. Ngoài đoạn “Tôi Theo Đạo” từ trang 91
đến trang 104, tác giả hồi ký thuật lại nỗi xúc động không cùng của anh
trong ngày chịu phép thánh tẩy để trở thành con cái Chúa, người đọc còn
bắt gặp nhiều đoạn văn thuật lại những tra vấn không ngừng của một con
người không cải đạo vì bồng bột nông cạn mà do những thôi thúc, mời gọi
từ những suy tư và xúc cảm sâu lắng trong khối óc và con tim. Cuối
trang 104, anh viết: “Để tạo hạnh phúc cho đời này cũng như đời sau,
mỗi người chúng ta tự đốt đuốc đi tìm niềm tin. Đức tin không những
phải sống động mà còn phải chứng minh qua những cảm nghiệm của mình
trong cuộc sống. Nếu chưa cảm nghiệm, thì không thể thấu được chân ltý
của đức tin”.
Hồi ký có nhan đề là “Hai Lần Trỗi Dậy”. Nhưng với tôi, ở vị trí người
đọc, tôi nhận ra là tác giả không chỉ trải qua hai lần mà tới ba lần
trỗi dậy. Đó là lần anh thực sự tìm gặp Thiên Chúa. Nó chính là con
đường định mệnh đã dẫn giắt cuộc đời anh tự thuở nào, và cũng là căn
duyên, hệ quả góp phần làm nên hai lần trỗi dậy được nói tới trong hồi
ký của anh.
Nam California ngày 27 tháng 4 năm 2002