Sứ Giả Tình Thương

Hồi Ký của AH Bùi Đức Hợp - Tập 2


Chương 3: Phát Triển Cộng Đồng

Tuần đầu tới Làng, tôi đã được ban Trị Sự chùa Vạn Pháp cho biết chùa sẽ tổ chức một ngày công quả để chuẩn bị lễ dựng nêu và đón mừng năm mới.  Nói đến phát triển cộng đồng, mắt tôi sáng lên, và nhận lời tham gia ngay.


* * *

Sáng nay, sân chùa nhộn nhịp như một ngày hội.  Đông đủ các chức sắc trong ban Trị Sự, đồng bào Phật Giáo cũng như Thiên Chúa Giáo.  Điểm đặc biệt của Làng là mỗi khi bên chùa có việc, tín đồ đạo Chúa đến chùa phụ giúp, và ngược lại.
Chị Khỏe, Phó Ban kiêm bà Từ thông báo chương trình công tác gồm có sơn quét toàn diện chùa, lộc đỉnh, tượng đài Quan Thế Âm Bồ Tát và hồ sen.  Gặp tôi, chị “welcome” thiện nguyện viên hải ngoại kiêm mạnh thường quân.  Tôi đáp lễ:
-Cảm ơn chị thật nhiều, tôi chỉ nhận chữ đầu, còn chữ thứ hai tôi không dám nhận!
Tôi được phân công trong tổ cạo sơn tượng đài.  Trước đây, tượng được sơn bằng 3 lớp sơn dổm, chồng chất lên nhau, mỗi lần tróc chỗ nào quệt trên đó 1 lớp sơn khác.  Lần này, chúng tôi cạo xát bêtông, bằng bàn chải sắt, và mũi dao nhọn.  Khó nhất là tẩy nhiều lớp sơn cũ nằm giữa những cánh sen, hay giữa những ngón chân Phật.  Hồ súng đã được tát cạn, phủ đầy những mảnh sơn vừa cạo.  Cảnh vật bất động. Mồ hôi  vã như tắm, tôi ráng cạo, vì ngày mai còn nhiều chuyện phải làm để mốt có thể khởi công “dự án cải tạo suối”.  Chị đến như để khích lệ tôi, nhưng ngôn từ lệch lạc:
-Nếu làm ngày không đủ, anh phải tranh thủ làm đêm!
Anh Trương phụ hoa:
-Đầu làng có Đức Mẹ ban phước bình an cho dân làngỉ, cuối làng có Phật Bà tưới nước Cam Lồ lên dân làng, việc gì mà chẳng xong!
Tới giờ giải lao, ban ẩm thực tiếp tế mỗi người một chai nước suối.  Tôi ừng ực cả chai mà vẫn không đỡ khát.  Nhóm trẻ đòi giải khát bằng bia Miguel!  Tiếng tụng kinh “Nam mô A Di Đà Phật” phát ra đều đều từ chánh điện cũng làm dịu bớt phần nào cái nóng gay gắt của buổi trưa hè.  Giờ “break” kéo dài không quá 15 phút, mọi người hối hả bắt tay vào việc, cho kịp lễ dựng nêu và đưa ông Táo về Trời vào tuần tới.  Chúng tôi mải miết đục gõ cho đến khi chim trời quang quác gọi nhau về tổ.  Trả lại đồ nghề, tôi trở về nhà, nhà tôi ở bên kia cầu chùa.
Khi tới Làng, tôi được cấp một căn nhà phía cuối làng, số 101 đường Âu Cơ.  Mái lợp tôn, trần vách bằng ván ép.  Nhà rộng 6x6 m, gồm 2 phòng ngủ, 1 phòng khách và ăn chung được sử dụng làm chỗ làm việc và thuyết trình.  Chếch phía trái là chùa Vạn Pháp; qua khung cửa sổ, tượng Phật Bà, một tay cầm cành dương liễu, một tay cầm lọ nước Cam Lồ, hiện ra như một bức tranh huyền diệu. Hàng xóm tôi là gia đình Nitchie, người Phi , nhân viên của Làng, họ trồng nhiều lan quý, phảng phất mùi hương về đêm.  Trước nhà, hàng cây mahogany cao và dày đặục.  Sau hàng cây là rừng, là suối , là hồ Tĩnh Tâm.  Trong bối cảnh  thanh bình của làng Việt Nam, mỗi ngày dạy 4 giờ sáng, tôi say sưa làm việc, đem hết cả nhiệt tình của tuổi đời còn lại ra xây dựng làng.
*
Trong ngày đầu viếng thăm linh đài Đức Mẹ La Vang, tôi hứa sẽ tổ chức một buổi phát triển cộng đồng làm xanh, sạch, đẹp nơi đây.  Ngày dự trù là 26/1/03.  Tôi nhờ cha Phú, cha chánh xứ giáo xứ NVVN thông báo trước tại nhà thờ ngày giờ, địa điểm phát động.  Chiều hôm trước, tôi và chú Minh đã căng dây cắm nọc sẵn tại hiện trường.
 Mặt trời đỏ chói như cục than hồng, từ từ nhô lên khỏi biển, dân làng đến mỗi lúc một đông, trong đó có nhiều người Phi tự nguyện tham gia.  Chúng tôi chia thành từng nhóm.  Nhóm dọn cỏ hốt rác do sơ Ánh Linh phụ trách, cha Phú quay phim, cô Đẹp lo ẩm thực.  Tôi và anh Tưởng chuyên chở đá hộc từ suối tới linh đài bằng xe cút kít (brouette), ca đoàn có nhiệm vụ xếp đá làm lề đường.  Lựa những cục đá tương đối vuông vít từ lòng suối, chúng tôi chất đá lên xe; thay phiên nhau, kẻ kéo người đẩy, mồ hôi đầm đìa. 
Nhớ lại hồi thập niên 60, trong những lần phát triển cộng đồng tại các thôn xóm hẻo lánh thuộc tỉnh Long An, Bình Long, Phước Tuy, Long Khánh, một mình tôi kéo xe ba gác chở đầy ắp vật liệu.  Là cấp chỉ huy, tôi phải đi đầu trong mọi công tác, hy sinh, chịu đựng nhiều hơn đoàn viên.
Mới đây thôi, khi thành phố New Orleans phát động chiến dịch nhặt rác dọc theo các kinh đào.  Cùng với nhà trường và các cộng đồng khác, chúng tôi đã hăng hái tham gia công tác.  Thấy các em học sinh vất vả trong việc lượm rác, những ai xả rác sẽ khựng lại.  Thói quen nhặt rác “ám ảnh” tôi, mỗi khi thấy rác ngoài công viên, tôi tự động lượm bỏ vô thùng rác.
  Giờ đây, ở vào tuổi thất tuần, thân già sức yếu, kéo xe cút kít một chặng đường, phải ngồi nghỉ một lúc, thở không ra hơi.  Thời trai tráng nay không còn nữa!
Khi mặt trời đứng bóng, cũng là lúc công tác tạm xong, mọi người hoan hỉ ra về, trừ toán đốt rác còn ở lại.  Ngày mai, toán thợ chuyên môn tiếp tục tráng nền, bắt điện, tỉa cành, làm hàng rào bằng ống nước.  Vật liệu do giáo dân đóng góp trong đó có cả gia đình Phật Tử.
*
Tiếng chuông, tiếng trống vang dội cả một góc làng.  Các cụ trong quốc phục chỉnh tề, các bà, các cô trong tà áo muôn màu thướt tha, lũ lượt băng qua cầu khỉ* tiến vào sân chùa để tham dự lễ dựng nêu.  Du khách không khỏi ngạc nhiên, trầm trồ khen ngợi, cái gì cũng mới lạ.  Từ mái ngói cong, mầu đỏ thấp thoáng trong rừng cây, cho đến chiếc lộc đỉnh thiếp vàng óng ánh sừng sững trước sân chùa; rực rỡ hơn cả là tượng Quan Thế Âm Bồ Tát trắng toát trên hồ súng màu xanh lá mạ.  Cây tre xanh dài 10 m từ từ được dựng lên giữa tiếng pháo nổ.  Đó là thành quả của chương trình phát triển cộng đồng, biết bao nhiêu mồ hôi, công sức của Phật Tử cũng như đồng bào trong làng đã đổ ra.
Cũng vậy, khi tới làng, hái lộc đầu xuân, du khách phải thốt lên: “La Vang đã trở về”. Bà trắng toát như thiên thần hiện ra giữa tàn cây vú sữa cao 10m.  Đằng sau linh đài là hàng cây Indian mới trồng như một tấm phông lớn ngăn cách thế giới ồn ào náo động bên ngoài.  Ban đêm, ánh đèn nê ông phản chiếu khuôn mặt nhân hậu, hiền từ như sẵn sàng an ủi những ai chạy đến cùng Bà.
Giáo dân bảo nhau: “Lâu lắm rồi, mới có buổi cầu nguyện thắp nến ngoài trời! “

* * *

Nhiều công tác phát triển cộng đồng khác sẽ lần lượt thực hiện.  Nó  không những đem bộ mặt mới cho đình, chùa, nhà thờ và các cơ sở tôn giáo khác, mà còn tạo nguồn sinh khí mới cho Làng.  Ngoài việc giải quyết vấn đề tiền vốn eo hẹp, nhất là trong hoàn cảnh khó khăn kinh tế hiện nay, quan trọng hơn cả là nó tạo lên tinh thần liên đới trách nhiệm, sự yêu thương, đoàn kết của mọi người trong làng.
Tôi mải mê sinh hoạt mà quên tuổi đời chồng chất.

*Cầu chính bằng bê tông đang xây cất



Xem tiếp
Chương 4: Sứ Giả Tình Thương