Sứ Giả Tình Thương

Hồi Ký của AH Bùi Đức Hợp - Tập 2


Chương 4: Sứ Giả Tình Thương

Nghe tiếng xối nước sau nhà, tôi biết anh Tổng đã dạy.  Anh là thành viên của Hội Đồng Đại Biểu.  Nhà anh ở phía sau nhà tôi, cách nhau không đầy 2m.  Nhờ vậy, sáng tôi được nghe ké đài BBC, tối đài Quê Hương, San Jose.  Tiếng anh vọng sang:
-Bao giờ thử đường hở anh?  Hôm qua đài có thông báo, tôi không nhớ ngày giờ (X phụ chương 4.1 ).  Nếu được, anh cho nhà tôi thử luôn.
-11 tháng 2 anh ạ.  Tôi muốn thử sau Tết để đồng bào vui vẻ ăn Tết.  Hôm đó, anh chị nhớ nhịn ăn sáng.

 * * *

Sáng sớm, tôi đã có mặt tại phòng Y Tế để sắp xếp phòng ốc, ghế ngồi.  Chưa tới giờ mở cửa, đồng bào đi làm ngoài phố đã chờ sẵn ngoài hiên, tôi mời tất cả vô. Sơ Ánh Linh phụ trách đo áp huyết và ghi kết quả thử nghiệm.  Ưu tiên  thử đường cho những người buôn bán ngoài phố, sau đó, tôi lần lượt thử cho từng người trong làng.  Máy thử đường của tôi thuộc loại Accu-chek, mang từ Mỹ sang.  Đối với đồng bào cao đường, cao máu, tôi khuyên họ ăn ít chất đường, mỡ, nên ăn nhiều rau, đi bộ ít nhất nửa giờ mỗi ngày.  Sau một tuần lễ vận động và ăn kiêng, đồng bào nào muốn thử lại, cứ tự nhiên đến nhà tôi, số 101 đường Âu Cơ, vào buổi sáng từ 7-8 giờ.  Bị bệnh tiểu đường, anh T. dáng người cao lớn, cho biết: “Phòng mạch bác sỹ ngoài phố cũng nhận thử đường, nhưng phải trả 200 P cho mỗi lần thử, còn ở đây free, cảm ơn sơ và chú nhiều”.
Người thử chót là bà Sáu bán thịt.  Bà vui vẻ bước vào:
-Em vừa ở phố mua rau thịt về bán cho bà con trong Làng, nên đến trễ.
-Không sao!  hôm này bà khỏe chứ.
-Nhờ thuốc ho, thuốc cảm Mỹ, anh cho hôm qua, mọi thứ bệnh đều biến mất.
-Bây giờ, bà còn mong cho Trời Sập nữa không ? (bà là tín hữu Báptít)
Bà cười.
Tôi thưa với bà:
-Lượng đường của bà ở mức bình thường, bà cứ an tâm buôn bán, mua thật nhiều thịt, cá tươi bán lại cho đồng bào.  Hôm nào thuận tiện, tôi sẽ đến thăm bà tại chợ chồm hổm, một mình bà một chợ.
*
Hôm  nghe tin bà Sáu than Trời sập, tôi vội đến thăm bà.  Bà vừa đi dự đại hội tại Manilla về, do Đức Cha Arguelles  và LS Trịnh Hội tổ chức.  Sở dĩ, bà than trời như bọng vì tốn một số tiền tàu khá lớn mà kết quả “hỡi ôi”!  Theo lời bà, khi Đức Ông Tài hỏi đồng bào có muốn đi định cư không?  Tất cả hội trường đều đứng dậy.  Đến lượt Đức Cha hỏi quý vi có muốn Giáo Hội xin thường trú không?  Tất cả đều đứng dậy.
-Cả 2 lần bà đều đứng dậy, tại sao bà còn mong cho Trời sập làm chi nữa.
Bà chống chế:
-Em đứng dạy khi Đức Cha hỏi, là vì thương những người ở lại.
-Nhân tiện, bà nói thương những người ở lại, tôi giả dụ năm nay Mỹ sẽ đến phỏng vấn và bốc đi những người hội đủ điều kiện, ai sẽ là người lo cho những đồng bào bị trượt thanh lọc lần thứ hai, những người không có thân nhân nước ngoài bảo lãnh, những người muốn nhận đất Phi hiền hòa làm quê hương thứ hai, ai là người lo cho những người mắc bệnh tâm thần, nan y như trường hợp cô Hải, cô Liễu, anh Phong, ông Trung,v. v.  Đó là lý do chúng tôi tiếp tục xây dựng Làng, dù cho chỉ còn lại một số ít gia đình.
Bà ra chiều đăm chiêu suy nghĩ.
Ngay ngày đầu tới Làng, gặp những cặp mắt soi mói của chị H. mập, chị T. tóc đỏ, linh tính cho tôi hay có điều gì không ổn đã xẩy ra cho dân làng.
  Ba năm trước đây, dù thân hay sơ, đồng bào trong làng cũng như ngoài phố đều tay bắt mặt mừng mỗi khi gặp nhau.  Tất cả đều nhìn về một phía: kẻ góp công, người góp của để xây dựng làng Việt Nam mỗi ngày một tốt đẹp.  Đó cũng là động lực thúc đẩy tôi quyết tâm biến nơi đây thành một Trung Tâm Du Lịch.  Chỉ có kỹ nghệ du lịch mới nâng cao mức sống đồng bào, đồng thời giới thiệu văn hóa dân tộc mình với người nước ngoài.  Trong 3 năm qua, tôi đã bỏ ra rất nhiều thì giờ để lên mặt bằng tổng thể, thiết kế, tính toán từng dự án.  Mặt khác tôi phải đi làm bán thời gian cộng thêm một phần số tiền tôi dành dụm trong suốt 15 làm việc cho  thành phố New Orleans, mới đủ 10,000 MK, 1/2 kinh phí cần thiết cho công tác cải tạo suối, (tôi góp 50%, Làng 50%).  Công tác này còn gọi dự án tưới tiêu đợt I trong toàn bộ dự án tưới tiêu với tổng kinh phí 70,000 MK
Bạn tôi viết thư từ Mỹ trách:
-Anh đã bỏ quá nhiều công lao, sao lại còn phải bỏ tiền ra nữa!
-Nếu tôi không bỏ tiền, công tác trên biết bao giờ thực hiện.  Bằng chứng là công tác cải thiện hệ thống thoát nước mưa và nước dơ trong lần  thăm làng thứ nhất (năm 1999), nếu tôi không bỏ ra 50% kinh phí, chắc giờ đây mùi hôi thối vẫn còn nồng nặc xông lên.  Dự án cổng tam quan của Làng và nhiều dự án khác cũng nằm trong chiều hướng trên.
Nhưng giờ đây, lòng người ly tán. Trong làng cũng như ngoài phố, chia làm 2 phe, nhìn nhau bằng con mắt thù hận:
-Phe chống thường trú (gọi tắt CTT):  Họ chống dự luật thường trú do chính quyền Phi dư trù ban hành trong năm nay.  Họ lấy cớ, nếu vô thường trú, khó xin đi định cư nước ngoài.  Phe đa số này gồm một số đông đồng bào ngoài phố, các đảo, và một số ít trong làng, dưới sự lãnh đạo của LS trẻ Trịnh Hội từ Úc sang, mà họ coi như một mẫu người hùng, một  thần tượng.  Đứng sau luật sư là  nhóm Lavas “ cứu người vượt biển”.  Lấy cớ là có sự bất công, ăn hối lộ của một số viên chức Cao Ủy Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc trong kỳ thanh lọc trước (1995), họ yêu cầu phái đoàn Mỹ phải tái thanh lọc.
-Phe xin thường trú:  Họ nghĩ rằng vô thường trú để khỏi bị trục xuất về nước như vụ cưỡng bách hồi hương đầy máu và nước mắt  trong năm 1996, còn vấn đề định cư sẽ hạ hồi phân giải.  Hiện nay, tại Phi có tới 2 ban Đại Diện Cộng Đồng, giống như tại Nam, Bắc Cali.  Còn tệ hại hơn thế, nhiều gia đình xào xáo vì vợ chồng thuộc 2 phe khác nhau.
Tôi không khỏi đau lòng trước thảm trạng này.  Nhân dịp tất niên (31/1/03), tôi ra phố thăm đồng bào cho biết sự tình.  Tôi la cà khắp nơi: từ quán beef noodle Kim Dung của anh Nam, cho đến nhà hàng cháo lòng của ông Tư, kios bánh mì của chị Trương, cho đến quầy hàng may mặc của cô Tiên, chú Hiền, chỗ nào có người Việt là tôi táp vô. Phố phường ồn ào, những bộ đồng phục xanh, hồng nhạt của các học sinh Phi trà trộn trong đám đông đã làm dịu mát cái nóng oi ả của buổi trưa hè.
Ngang qua cửa tiệm cung cấp vật liệu xây cất, chủ nhân  vồn vã mời tôi ly trà đá.  Bà tâm sự: “Người Phi ghen tị  với người Việt vì họ làm suốt đời cũng không mua nổi một căn tiệm như thế này.  Họ thèm thuồng cuộc sống của mình vì suốt đời họ chỉ lao động mà thôi.  Người Việt thật may mắn,  đến đây với hai bàn tay trắng.”
Tiệm đến thăm kế tiếp là nhà hàng P.A., ở đây, tôi bị thực khách “chất vấn” nhiều hơn cả:
-Chú là người của bà Sơ?
-Khi đến Làng làm thiện nguyện đầu năm 1999, tôi không hề biết Sơ là ai, cũng không quen biết hay có họ hàng với bất cứ đồng bào nào trong làng, ngoài phố, hay trên bất cứ hòn đảo nào của Phi.
-Mỗi tháng, chú được trợ cấp bao nhiêu tiền?
-Vì có khả năng tự túc, tôi từ chối nhận số tiền 5000 Pê sô mỗi tháng của Làng dành cho thiện nguyện viên hải ngoại.  Tôi chỉ xin Làng một căn nhà vừa để ở vừa làm văn phòng.
Tôi khuyến khích đồng bào tự do đặt câu hỏi, ngay cả những câu thuộc loại “không tiện nói ra”, tôi hứa sẽ trả lời thẳng thắn, không úp mở.
-Em xin hỏi bác Hợp, dư luận cho rằng bác xin tiền của đồng bào bên Mỹ để xây dựng các dự án cho Làng, có phải vậy không?
-Cảm ơn em đã nêu thắc mắc trên.  Số tiền 50% đóng vào quỹ đối tác cho các dự án là do tiền túi của tôi, ngay cả tiền vé máy bay đi về cũng do tôi bỏ ra, không một tổ chức hay cá nhân nào đài thọ.
Kinh nghiệm hoạt động xã hội trong suốt 40 năm dạy tôi: ”Không bao giờ đụng đến đồng tiền của người khác, dù là đồng tiền từ thiện; tôi chỉ biết cho đi những gì mình đang cần, và cương quyết không nhận tiền của ai dưới bất cứ hình thức nào”.
Kể từ ngày thành lập Làng đến giờ, đồng đô la đã là nguyên nhân mọi xáo trộn, mọi tranh chấp, oán hờn, xuyên tạc, kể cả hận thù.
Phần đông trong những người có may mắn được đi định cư tại một nước thứ ba coi Làng như là một nơi đầy rẫy “bất công”, thay vì coi Palawan như là nơi ghi dấu nhiều kỷ niệm khó quên trong đời tỵ nạn.
  Một số người còn ở lại bất mãn về nhiều thứ như trường hợp: Ông X. vẫn muốn con mình phải được cấp học bổng, mặc dầu ông là chủ một nhà hàng đông khách.  Một chủ tiệm buôn bán lớn khác đòi hỏi Làng trợ cấp y tế phí khi vợ ông hư thai, phải mổ tại bệnh viện.  Giúp vốn làm ăn rồi giựt luôn, lấy lý do đó là tiền đóng góp của đồng bào hải ngoại.  Gia đình có con em nhận học bổng Pam Baker bị cúp học bổng của Làng, cho đó là hành động trả thù!  Công bằng mà nói, Làng cũng có nhiều khuyết điểm trong việc điều hành và quản trị.
Ngay từ buổi đầu, nhóm Lavas chống đối việc xây dựng làng, họ tung tin trên báo chí: “mức độ thủy ngân độc hại tại làng gấp 280,000 lần hơn mức an toàn”; theo tôi, “nghìn lần thôi cũng đủ xóa tên làng Việt Nam khỏi bản đồ Phi Luật Tân” (X. phụ chương 4.2 ) .  Tai hại hơn cả là họ tạo một ấn tượng “đồng bào sẽ được đi định cư một nước thứ ba”.  Không an cư, sao có thể lạc nghiệp!
Kể sao cho hết mọi trường hợp, càng kể ra bao nhiêu càng đau lòng bấy nhiêu.
Đang suy tư về tác hại của đồng đô la tại quán Kim Dung, ông chủ quán đưa cho tôi xem một tài liệu in, không có xuất xứ, v/v định cư tại Úc và yêu cầu tôi góp ý.
-Theo sự hiểu biết của tôi, định cư theo diện đoàn tụ gia đình thì dù vô thường trú hay không, sống ở Phi hay Việt Nam, hay ở bất cứ nước nào, đều đi được cả.  Hiện nay, sở Di Trú Mỹ đang phỏng vấn những người đã nộp hồ sơ năm 1995 thuộc diện “cha mẹ bảo lãnh  con cái”, đang cứu xét những người đã nộp hồ sơ năm 1992 cho diện anh em.  Còn việc nội trong năm nay “phái đoàn Mỹ sẽ sang phỏng vấn” thực sự tôi không rõ.  Tôi chỉ khuyên đồng bào: “Khi nào thấy tận mắt phái đoàn Mỹ sang Palawan phỏng vấn và có tên trong danh sách được chấp thuận đi, lúc đó đồng bào bán nhà, bán của cũng không muộn”.  Ba năm về trước, cũng có tin Mỹ sẽ bốc đi hết, đồng bào lại một phen bán tống bán tháo!, bán cả sự nghiệp do mồ hôi nước mắt tạo dựng.   Bán đi rồi, lấy gì mà sinh kế!
 Nghe tôi trình bày, một vài vị tương đối hiểu biết, muốn có cuộc gặp gỡ giửã LS Trịnh Hội và tôi.  Tôi sẵn sàng, khi nào quý vị sắp xếp xong, xin thông báo cho  hay.  Tối mồng một Tết, LS Hội và cô K.ụ D.  tới thăm làng, và chụp hình lưu niệm tại cầu chùa đang xây dựng.  Bóng tối che khuất dần 2 vị khách quý.
Tiếc rằng thì giờ quá ngắn ngủi không cho phép tôi thăm hỏi tất cả bà con ngoài phố.  Trên đường về làng bằng xe tricycle, vừa xóc vừa bụi, lòng tôi buồn rười rượi, biết đến bao giờ dân tộc mình mới biết đoàn kết thương yêu!
Nhóm CTT trong làng, tuy là thiểu số, nhưng rất quậy.  Nếu có ai bênh vực thường trú là họ phản ứng liền.  Buổi tối ngày 28/2/03, chị T N đọc trên đài bài phóng sự của tôi “Một lần về thăm Saigòn” (X. phụ chương 4.3 ); trong đó có đoạn nói về thường trú. Nhóm CTT kéo tới đài, đòi đối chất với xướng ngôn viên.
Đài ngưng phát thanh 1 phút.  Chắc có chỉnh lý!
Mang theo một bình đầy nước lã, chị H. trong nhóm mỉa mai:
-Chị N uống đi cho đỡ khát!
Còn anh N. chua chát:
-Bao giờ về Saigòn, tôi sẽ ghé thăm chị!
Khi nghe cha giảng trong nhà thờ về cuộc sống vất vả “cày 2, 3 job” của người Việt bên Mỹ, họ ồn ào phản đối, và cho cha là vu khống, xuyên tạc.
*
Lòng tôi quặn đau!
Tôi phải làm bất cứ gì, để có thể hàn gắn vết thương đang mưng mủ.  Việc đầu tiên tôi nghĩ tới là lập hộp thuốc “Tình Thương” gồm những thuốc thông thường như nhức mỏi, cảm cúm mà tôi mang từ Mỹ, riêng thuốc trụ sinh chỉ cấp cho người nào có toa bác sỹ. Đối với đồng bào, thuốc Mỹ là linh dược, chữa bách bệnh, uống vào là khỏe ngay.  Sau khi được hướng dẫn tỉ mỉ thời hạn cũng như cách sử dụng thuốc, cô H. nhận làm thiện nguyện, đến thăm hỏi và cấp thuốc cho những ai đang cần sự săn sóc.   Chịu khó lắng nghe, biết cách an ủi người bệnh, cô được nhiều người thương mến, nhất là nụ cười điểm sẵn trên môi. Chỗ nào có buồn phiền, chỗ đó có Sứ Giả Tình Thương.  Sau này, khi về Mỹ, tôi tiếp tục gửi sang những thứ thuốc nào đã phân phối hết.  Tôi hy vọng sứ giả tình thương của tôi, và những người kế nhiệm sẽ sưởi ấm một phần nào tình đồng hương của dân làng đang bị nguội lạnh.

* * *

Những tuần lễ kế tiếp, tôi vẫn tiếp tục thử đường cho đồng bào tại nhà.  Khi lượng đường xuống, họ vui mừng, cho tôi  trái cây đầu mùa trồng ngoài vườn: đu đủ, vú sữa, mãn cầu dai...Ăn không xuể, tôi tặng lại anh chị Lâm.
Trời chưa sáng, từng nhóm phụ nữ rủ nhau đi bộ quanh làng.  Họ vừa rảo bước, vừa trò chuyện, tôi nhận ra tiếng cô Út, cô Hương (Thủy), chị Ánh, trò Hoài, tiếng của cả 3 miền quyện lại. Họ kháo nhau chuyến này phải giật bằng được giải đi bộ do tôi bảo trợ được tổ chức vào ngày Hội Làng sắp tới (16/4/03).
  Những bước chân dồn dập, những tiếng cười rộn rã khiến bàu không khí trong làng vui nhộn hẳn lên. 


Xem tiếp
Phụ Chương 4.1: Thông Báo