Sứ Giả
Tình Thương
Hồi
Ký của AH Bùi Đức Hợp - Tập 2
Chương 7: Cải Tạo
Suối Nam
hay DỰ ÁN TƯỚI TIÊU ĐỢT I
Dựa trên tài
liệu đo đạc do KS Rolly từ Phi gửi sang, tôi thiết kế dự án tưới tiêu
đợt I, và nhờ KS Chương T. Nguyễn vẽ bằng ACAD, không lấy tiền thù
lao. Sau khi hoàn tất, ngày 10/6/02 tôi đệ trình Làng hồ sơ kỹ
thuật để xin duyệt, trước đó tôi đã chuyển chi phiếu 10,000 MK, phần
đóng góp của mình vào quỹ đối tác.
Để có thì giờ lo xong 2 việc: dời hài cốt của mẹ tôi từ Nam ra Bắc và
tổ chức ngày giỗ thứ 55 năm của thầy tôi tại quê nhà, tôi yêu cầu Làng
cho khởi công dự án ngay đầu tháng 12/02 là lúc mùa mưa vừa chấm dứt,
tôi sẽ trở sang làng vào đầu tháng 1/03 để giám sát thi công.
* * *
Từ phi trường quốc tế Purto Princesa về làng, quốc lộ đang được nâng
cấp, đường xấu và bụi. Khi tới đầu làng, tôi lắng nghe xem có
tiếng động cơ của các thiết bị công trường. Bốn bề yên tĩnh, có
lẽ công trường chưa khởi công. Quả đúng vậy! họ chờ tôi sang, vì
sợ trách nhiệm, vì thiếu người điều hợp.
Gặp Chủ Tịch ở đầu đình, tôi hơi bực mình:
-Sao chưa khởi công như đã hứa?
-Em vừa đi Manila họp với quốc hội Phi về vấn đề thường trú. Lu
bù công chuyện, em quên cả cho người đón anh tại phi trường.
-Không sao! Chỉ tiếc một điều, anh phải về Mỹ trước khi công tác
hoàn thành!
Tám giờ tối hôm đó, tôi mời KS Rolly đến gặp tôi tại làng. Trong
suốt tuần lễ kế tiếp, chúng tôi vật lộn với thời gian để phác họa cho
xong:
-Sơ đồ tổ chức công trường
-Lịch trình tiến triển công tác
-Biểu đồ cung cấp vật tư, tiền mặt, v.v.
Tôi muốn tổ chức công trường theo kiểu Mỹ gồm đủ mọi chức năng, từ bộ
phận giám sát đến thi công. Rolly và Richy đảm nhận thi công, còn
tôi phụ trách giám sát. Tại văn phòng giám sát, tôi dán la liệt
những họa đồ xây dựng, đồ biểu tiến độ thi công để tiện thuyết trình
mỗi khi quan khách hay đồng bào có dịp tham quan công trình.
Trước khi khởi công, tôi triệu tập một phiên họp tại công trường
(preconstruction meeting) gồm Hội Đồng Đại Biểu (HĐĐB), Hội Đồng Điều
Hành (HĐĐH), nhân viên công trường. Ủy ban đi bộ dọc theo lòng
suối khô cạn từ đầu dự án (nhà hàng) đến cuối dự án ( chùa). Tôi
trình bày những cây nào nằm giữa 2 hàng dây đỏ buộc phải dời đi, trừ
cây me vì cây này đã đi vào lịch sử kể từ ngày thành lập làng:
“Làng tôi có cây me cao ngất từng xanh
Có suối trong lơ lửng vờn quanh”
( bắt chước theo nhacỉ và lời của Chung Quân)
Bà Chủ Tịch HĐĐB yêu cầu ủy ban:
- chặt bỏ hàng cây Indian trước chùa nhưng xin giữ lại khóm trúc sau
đình.
Người đề nghị bỏ cây này giữ cây kia, hoặc lấn bên phải tránh bên
trái. Mỗi lần như vậy, chúng tôi phải uốn nắn lại lòng suối sao
cho bảo đảm dòng chảy, mà vẫn giữ được cảnh quan thiên nhiên.
-Anh nhớ xây bậc đá xuống suối tại đình cũng như tại chùa.
-Chi vậy!
Anh Tổng hướng về phía chị Khỏe, tủm tỉm cười:
-Để cho nàng rửa chân.
Mọi người vui vẻ cười xòa để quên đi cái nóng gay gắt của một buổi
chiều không một bè mây xuất hiện.
Ngoài ra, HĐĐH còn đề nghị thay vì làm 3 cầu gỗ, chỉ cần làm 2 cầu đúc,
một ở chùa, một chung cho đình và trụ sở ban Đại Diện:
-Liệu có đủ tiền không anh?
-Tối nay, tôi về làm”home work”, mới trả lời được.
Để trả lời “được/ không”, tôi phải tính toán lại từ đầu, lập bảng dự
toán mới, cũng may vừa vặn đủ tiền. Tới khi khảo giá, chúng tôi
mới khám phá ra rằng cả Palawan không có dầm I, phải đạt mua tại
Manila. Thêm một lần nữa, tôi phải thiết kế lại, dùng sắt góc và sắt
dẹp hàn lại để có sức chiu tương đương với dầm I.
Ngày khởi công được ấn định vào ngày 20/1/03. Từ tờ mờ sáng, công
nhân Phi tụ tập từng tốp trò chuyện. Ngoài những dụng cụ hành
nghề riêng, họ mang theo ga men đựng đồ ăn trưa. Họ từ các
barangay tới, có người từ thành phố đến, ai nấy đều hớn hở ra mặt vì có
công ăn việc làm trong lúc tỷ lệ thất nghiệp lên cao. Số công
nhân Phi thâu nhận là 30, trong khi công nhân người Việt làụ 3 mặc dầu
Làng đã ra thông cáo cả tuần trước, ưu tiên dành cho đồng bào
trong làng cũng như ngoài phố. Người Phi chịu khó, làm việc liên
tục, chỉ ngừng lại khi nghe tiếng kồng báo giờ nghỉ, 15’ mỗi buổi.
Lợi dụng giờ nghỉ, tôi mabuhay (chào hỏi) từng người. Họ kêu tôi
big boss ( xếp lớn) vì thấy KS Rolly khi nói chuyện với tôi một điều
“Yes, sir” hai điều “No, sir”.
Âm thanh của kồng khởi động từ phía nhà hàng, vượt qua đoạn đường dài
200m, dội tới văn phòng tôi. Dần dần, nó ăn sâu vào tiềm
thức, mỗi lần vắng nó, tôi cảm thấy nhớ nhung như thiếu một cái gì.
Buổi trưa, chúng tôi có 1 giờ ăn và ngủ trưa. Một tốp công nhân
tụ tập dưới mái đình, họ vừa đàn Tây Ban Cầm, vừa hát những bản dân
ca. Giống như bao người Phi khác, tâm hồn họ thật hồn nhiên, hiền
hòa, cởi mở, hiếu khách, nhưng tự trọng. Trong khi đó một số đồng bào
ta tự hào về nhiều thứ: con Rồng cháu Tiên, 4000 năm văn hiến
v.v. Họ không những không thích làm việc cực theo nghĩa đổ mồ hôi
lấy bát cơm đầy, mà còn chê bai người bản xứ, nhưng có lúc nào họ
tự hỏi nhờ ai mà mình có cuộc sống sung túc, ấm no hơn người.
Tiếng kồng vang dội như nhắc nhở tôi công trường đã bắt đầu một ngày
mới. Làng nhộn nhịp hẳn lên, tiếng gầm gừ của máy xúc (backhoe)
hòa lẫn với tiếng nổ ì ạch của máy trộn bêtông. Trong bộ quần
ngắn, áo cụt tay, nón lá rộng vành, chân đi giày bata, tôi lò mò bước
đi trong lòng suối lỡm chởm những đá miễng. Giống như xe tăng
khổng lồ, máy xúc bánh xích khó khăn di chuyển trên lòng suối.
Bác tài tỏ ra thiện nghệ, anh dùng gầu cạp đất, rồi quay vòng, trút đất
trên những khoảng trống mà không đụng tới hàng cây hai bên bờ.
Theo sau máy xúc là toán thợ hồ xây tường chắn đất. Họ chia thành
nhiều nhóm, hoạt động nhịp nhàng:
-nhóm liệng đá từ trên bờ
-nhóm đào đất làm móng tường
-nhóm sử dụng máy trộn hồ
-nhóm thợ xây
Trang bị bằng 2 bánh cao su phía trước, máy trộn được dời tới theo tiến
độ thi công của nhóm thợ xây. Càng ngày đá hộc càng chất cao
trong lòng suối, khiến máy trộn khó di chuyển, họ bèn đổi chiến lược,
di chuyển máy trên bờ và dùng máng dài để chở hồ xuống suối.
Thỉnh thoảng máy dở chứng, họ trộn hồ bằng tay, đồng đều không
thua gì máy.
Công tác đổ bê tông cốt thép tại đập đình dòi hỏi nhiều chú tâm
hơn. Họ chia thành 2 nhóm dưới sự điều động trực tiếp của Rolly
và tôi:
-nhóm I gồm 8 người trong đó 6 công nhân chuyên chở sỏiù, cát, ximăng
tới máy trộn, 2 người điều khiển máy, và trút bêtông qua máng xuống
khay lớn đạt tại lòng suối.
-nhóm II gồm 12 người có nhiệm vụ chở bêtông từ khay vào khuôn đập, và
đầm nén bêtông bằng những gậy sắt dài.
Họ làm việc liên tục, không nghỉ trưa, chỉ ngưng lại khi đổ tới mối co
dãn. Có lẽ vì không chịu cực như người Phi, số công nhân người
Việt đã tự ý rút lui, không báo trước, sau cùng chỉ còn lại một mình
bác Chương.
Vì đây là một dự án mang tính chất “vừa thiết kế vừa thi công, nên 10
giờ sáng mỗi ngày đều có phiên họp giữa ban Giám Sát và ban Thi Công để
giải quyết những khó khăn trở ngại, nhất là thay đổi thiết kế cho phù
hợp với hiện trường. Cứ hai tuần một lần vào ngày thứ ba, chúng
tôi họp chung với ban Đại Diện để báo cáo về tiến độ thi công,tình hình
tài chánh, những thuận lợi, khó khăn cùng nhau tìm phương giải quyết.
Thường nhật, các vị cao niên tụ tập dưới bóng me hoặc bên bụi trúc để
xem “bắc hu” biểu diễn quay vòng; còn quý bà họp mặt tại quán cháo lòng
của chị Ánh, vừa ăn sáng vừa quan sát diễn tiến công trường. Họ
kháo nhau: Làng sẽ xây thêm 2 kios bên đập đình để trưa hè, bà con cô
bác trong làng vừa ăn picnic, vừa nghe suối chảy.
Thấy 3 người trẻ đang chỉ trỏ gì trong quán, tôi ghé vô. Được
biết các em là sinh viên công chánh, kiến trúc và cơ khí, tôi trải họa
đồ, cắt nghĩa cho các em về quá trình thực hiện công tác. Các em
lắng nghe, tỏ ra thích thú. Một em phát biểu:
-Cháu sẽ nói cho giáo sư trường đại học của cháu về công trình này của
làng.
Một em khác xin dùng họa đồ này làm dự án tốt nghiệp.
Trong câu chuyện trao đổi tâm tình, tôi hỏi một em ít tuổi nhất trong
bọn:
-Em đã thấy Saigòn, Nha Trang chưa?
-Chưa! cháu chỉ nghe bố mẹ cháu kể lại.
-Vậy cháu có biết vịnh Honda, thác Estralla, động Tabon, công viên quốc
gia St Paul không?
-Biết! Hồi còn trung học, hè nào, nhà trường cũng chở bọn cháu tới đó
cắm trại.
-Bác năm nay đã gần 70, bác muốn nhờ các cháu thế bác, tiếp tục xây
dựng làng sau khi tốt nghiệp.
-Là làm gì hở bác?
-Khi nào rảnh, các cháu đọc tập cẩm nang này sẽ rõ.
Tôi dúi vào tay các em một tập sách nhỏ có tựa đề là “Làng Việt Nam,
một trung tâm du lịch lý tưởng”. Còn biết bao nhiêu việc phải làm
như quán trọ bên hồ Tĩnh Tâm, đường mòn Âu Cơ lên núi, đường Lạc Long
Quân ra biển Đông v.v. trong khi đó hai đầu gối tôi bắt đầu nhức
mỏi! Ước gì tôi ở tuổi 65!
Sáng hôm nay, tôi ra công trường sớm hơn thường lệ. Chị H. mập
chắn lối, hình như chị muốn trút lên đầu tôi những uẩn ức đang đè nặng
trong lòng bấy lâu:
-Nếu có em nào chết đuối, chú hoàn toàn chịu trách nhiệm.
-Xin vâng!
Dù có cắt nghĩa thế nào, chị cũng không hiểu, tốt hơn là im lặng.
Tuy vậy, trong một phiên họp giao ban, tôi cũng đề nghị Làng cắm tấm
bảng “lưu ý phụ huynh coi chừng con em chơi gần bờ suối trong mùa
lũ”õ. Sau này tôi được biết chị là thành viên tích cực trong đội
ngũ chống thường trú (CTT).
Vừa thoát khỏi câu nói xỉa xói của chị, tôi lai phải giáp mặt với anh
S., dáng cao lênh khênh. Anh hỏi tôi về trị giá công trình, tôi
đáp:
-1,100,000 P, đấy là chưa kể thiết kế phí, giám sát thi công phí.
-Sao mắc vậy! để số tiền này mà chia... (ý anh muốn nói, làm công tác
làm chi, sao không đem số tiền này chia đồng đều cho mỗi người)
Anh ngập ngừng không nói nữa khi nhìn thấy bảng dự án (project sign)
dựng chình ình phía nhà hàng, trong đó ghi tên tôi là ân nhân tài trợ
dự án. Từ đó, gương mặt anh bớt lạnh lùng.
Dạo này phong trào CTT lên cao, tôi tạm quên để có thể tập trung thì
giờ vào dự án.
Cơm tối vừa xong, anh Lâm, quản lý vật tư, mời tôi đi tiếp nhận
đá. Tôi hơi ngỡ ngàng:
-Sao anh không mời Ủy Ban mà lại mời tôi!
-Họ nói là ngoài thẩm quyền quyết định.
Tôi miễn cưỡng đi theo anh tới công trường giao đá. Nữ chủ nhân
Phi, dáng người thanh thoát, nói tiếng Anh lưu loát, yêu cầu tôi tiếp
nhận 3 xe vì trời tối. Tôi khước từ vì đá giao quá cỡ quy định,
khổ lớn nhất không quá 25 cm. Bà năn nỉ xin đổ tạm nơi đây, rồi
mai giải quyết tiếp, (sau này bà tặng không số đá đó cho Làng).
Tại Palawan, tôi gặp khó khăn trong vấn đề tìm kiếm vật tư, mác Mỹ khác
với mác Phi, không biết đường nào mà mò. Cung cấp vật liệu hoặc
thuê mướn thiết bị không có hợp đồng ký kết, chỉ nói miệng, cùng lắm là
ghi quy cách vật liệu trên một miếng giấy nhỏ bằng bàn tay để ghi
nhớ. Cát sông (riversand) dùng để trộn bêtông không có bán trên
thi trường, vì chính phủ độc quyền khai thác loại cát này.
Nhà cung cấp trình cho tôi một loại cát mịn khác mà người Phi dùng để
xây cất nhà cửa. Tôi hỏi đại lý:
-ông lấy cát ở đâu?
-ở bãi biển.
Nói đến biển là tôi lắc đầu lia liạ, thảo nào nhà cửa của dân chúng ở
đây hay bị nứt.
-Để trò chở thầy đi coi vựa cát khác vậy!
Đó là đề nghị của chị Hoài, một nhà cung cấp vật tư có hạng của thành
phố. Hoạt bát, sắc sảo, chị trông rất trẻ, tưởng chừng ngoài 30,
mặc dầu chị đã có cháu nội. Chị gọi tôi bằng thầy và xưng là trò,
vì chị có theo học một lớp xây dựng cơ bản do tôi hướng dẫn khi sang
làng lần đầu. Thấy tôi có vẻ ngỡ ngàng trong cách xưng hô, chị
giải thích:
-Nhất tự vi sư, bán tự vi sư, thày ạ.
Câu nói của chị làm tôi cảm động, như lúc đẩy xe lăn cho thầy Tạ Huyến
(X. phụ chương 7.1).
Chị chở tôi trên chiếc honda 2 bánh qua phố phường đông nghẹt người,
còi xe bóp inh ỏi. Tôi phải chống hai tay trên yên xe để khỏi
đụng vào lưng trò, mệt nhất là lúc trò đạp thắng. Loanh quanh hồi
lâu, chúng tôi tìm được loại cát suối tương đương.
Để cho việc cung cấp vật tư được đề huề, chúng tôi dựa trên 2 nguyên
tắc:
1) Nếu nhà cung cấp người Việt cho bằng hoặc rẻ hơn giá người Phi, ưu
tiên dành cho người Việt.
2) Nếu khối lượng vật tư quá lớn, phân đồng đều số lượng cho các nhà
cung cấp.
Mồng một Tết nhằm ngày thứ bảy 1/2/03, tôi đề nghị công trường nghỉ ăn
Tết. Trời mát, nắng đẹp. Sau khi đi lễ đầu năm tại nhà thờ,
chùa, tôi đến từng nhà chúc tuổi bà con cô bác trong làng. Từ
tuần lễ trước, tôi nhờ cô phát ngân viên đổi tiền 10 P mới tại ngân
hàng, và mua bao lì xì hiệu Phước Lộc Thọ tại siêu thị. Nhà nào
cũng ngổn ngang dưa hấu, bánh tét, bánh chưng, rượu mứt. Qua câu
chuyện đầu xuân rộn ràng kèm theo những lời trách cứ, phần đông bà con
đều bày tỏ nguyện vọng muốn đi Mỹ hoặc Úc. Nếu có ai cắc cớ hỏi
rằng đồng bào có muốn đi định cư nước thứ ba như Đức, Nhật, Na Uy, Thụy
Điển v.v., họ sẽ nhận được cái nguýt dài.
Riêng tôi, tôi chúc mừng đồng bào sớm đi định cư, nhưng còn ở đây ngày
nào, xin tiếp tay xây dựng ngày ấy. Tôi mong ước có dịp nào đó,
một số quý vị hiện đang làm chủ các cơ sở thương mại hoặc tiểu công
nghệ sẽ thăm viếng Hoa Kỳ để tìm hiểu cuộc sống tại đây trước khi có
quyết định đi hay ở. Trong thời buổi hiện nay, kiếm việc lao động
phổ thông tại Mỹ như rửa chén, bồi bàn tại các nhà hàng, hay làm phu
khuân vác tại các chợ không phải là chuyện dễ. Ở Phi, quý
vị có “ô xin” trong nhà, sang Mỹ chuyện đó trở thành huyền thoại!
Thấy tôi ngồi ngẩn người, chị Q. dục tôi uống một ly trà móc câu nóng
mà cô em của chị mới gửi từ Việt Nam sang. Nước vàng lạt và
trong, hương vị đậm đà.
-Chị có mấy cháu. Tôi hỏi.
-5 cháu.
Tôi trao 5 bao lì xì cho cháu gái lớn nhất, và dặn phát cho các em đang
chơi “bò, cua, ca,ù cọp” sau hè. Tôi cáo biệt chị ra về, cảm giác
buồn vui lẫn lộn.
Trong suốt 2 ngày Tết, tôi không được ăn nhà bữa nào, hết chú
Minh, cô Út, đến anh chị Hoàng, vợ chồng cô Hương, Thủy khoản đãi tiệc
tùng linh đình. Họ yêu cầu tôi hát karaokê, tôi chỉ hát theo, vì
từ ngày tới Mỹ có bao giờ biết hát hò là gì. Cảm tạ các bạn đã
dành cho tôi những cảm tình thắm thiết, giúp tôi nguôi đi nỗi nhớ nhung
xa nhà.
Tết qua mau!
Tiếng kồng vang dội! Tôi miệt mài trong công việc. Dự án
đòi hỏi nơi tôi nhiều sáng tạo cho phù hợp với hoàn cảnh địa phương:
-dùng ống tre rỗng ruột thay thế ống nhựa, phi 5 cm làm lỗ thoát nước
(weephole) tại tường chắn đất, vừa mau vừa tiết kiệm.
-sử dụng nhựa at phan làm mối co giãn thay thế cao su (joint filler)
tại các mối nối giãn nở. Thị trường Palawan không có bán loại cao
su này, muốn mua, phải đạt trước tại Manila.
Trở ngại lớn lao mà chúng tôi gặp phải là đất yếu tại cuối dự án. Ở bên
Mỹ, thiết kế nhà ở cần tới 7 ngành chuyên biệt: kiến trúc sư, trắc địa
sư, kỹ sư công chánh, kết cấu, điện, cơ khí, đất; quan trọng hơn cả là
kỹ sư cơ học đất, ông này bảo đóng cọc, cọc phải đóng. Ở đây, vì
thiếu thầy, thiếu thợ, một mình tôi phải kiêm tới 5. Đóng cọc
bêtông không đủ kinh phí, cọc sắt L có bán sẵn, nhưng mắc và không
thích hợp với vùng biển. Nhiều đêm thao thức, không ngủ được, tôi
nghĩ tới cừ tràm mà tôi hay sử dụng cho những công trình tại đồng bằng
sông Cửu Long. Hỏi Rolly, ông ta không biết cây tràm là cây gì,
chắc ở Phi không có loại cây này. Thân tre trước nhà cọ vào nhau kêu
kẽo kẹt khiến tôi nhớ tới những cọc tre đã dùng làm móng cho nhà thờ
Phú Nhai cao 44 m, tại quê nhà.
Sáng sớm hôm sau, tôi huy động một số công nhân vào sâu trong rừng đốn
tre loại solid japanese bam boo, cật đặc, thân thẳng. Đóng cọc
tre trên nền đất yếu là việc làm mới lạ, tạo sự chú ý đặc biệt đối với
các kỹ sư Phi tại Palawan.
* * *
Trời mờ sáng, gió biển thổi nhẹ. Một thầy, một trò đi bách bộ dọc
theo công viên Âu Lạc, nơi hội tụ của 2 dòng suối Bắc, Nam. Chỉ
cho trò hàng cọc tre vàng mới đóng hôm qua, tôi say sưa nói về sức sáng
tạo của người Việt. Tôi ngao ngán thở dài:
-Tuần tới, thầy về rồi, mà công tác chỉ xong 79 %.
-Sao thầy không ở lại cho đến khi xong hẳn.
-Thầy còn có nhiều việc phải làm bên nớ.
-Mai mốt họ đi hết, thầy xây dựng làm gì?
-Còn chứ, những người rớt thanh lọc lần thứ hai, những người mắc bệnh
tâm thần, nan y, và còn ai nữa? những ai muốn nhận nơi này làm quê
hương thứ hai. Dù chỉ còn ít gia đình ở lại, thầy vẫn tiếp tục
công trình nếu Trời cho còn sức khỏe.
-Thầy làm, rồi hạnh phúc ai hưởng?
-Đã từ lâu rồi, thầy lấy hạnh phúc của người khác làm niềm vui của
mình. Nhân tiện đây, thầy muốn nhờ trò một việc: Thầy đã thiết kế
xong họa đồ cổng tam quan của làng bằng vật liệu nặng với kinh phí 2000
MK. Tại phiên họp liên hội ngày 1/3/03, thầy đã trao tận tay ông
Chủ Tịch ban Đại Diện số tiền 1000 MK, phần đóng góp của thầy , phần
còn lại sẽ do Hội Đồng Đại Biểu kêu gọi đồng bào đóng góp thêm, vì cổng
làng còn, làng Việt Nam sẽ tồn tại mãi. Trò tiếp một tay để
công tác sớm thực hiện.
Tiếng kồng vang dội. Mặt trời ló dạng. Từ biệt trò, tôi
theo bậc đá bước lần xuống suối. Nhìn lòng suối uốn éo giữa hai
tường đá thẳng đứng, tôi nhẹ nhõm thở dài, chỉ tiếc rằng công trình đã
thực hiện trong những điều kiện khó khăn về mọi mặt từ kinh phí, kỹ
thuật, vật tư, cho đến trang thiết bị
Xem tiếp
Phụ Chương 7.1: Thầy còn nhớ tôi không