Sứ Giả
Tình Thương
Hồi
Ký của AH Bùi Đức Hợp - Tập 2
Chương 9: Biệt Ly
Hôm nay (6/3/03), tôi tạm biệt làng để trở về Hoa Kỳ mặc dầu công tác
cải tạo suối chưa xong hẳn. Tôi tin rằng KS Rolly, người phụ tá
của tôi, sẽ thực hiện phần còn lại một cách tốt đẹp.
* * *
Tờ mờ sáng, tôi đi bộ từ đầu đến cuối dự án để nhìn công trình một lần
chót. Chỗ nào cũng mòn đế giày bata, tôi dừng khá lâu tại cầu
đình, chỗ mỏn đá mà tôi trượt chân tuần trước, vết sẹo còn hằn lên ở
đầu gối, ở khuỷu tay (X. phụ chương 9.1). Trưa qua, cũng dưới mái
đình, tôi khoản đãi tất cả nhân viên công trường một bữa ăn tay cầm để
nói lên lời từ biệt, và cảm tạỉ. Bài nói chuyện của tôi được ngắt
từng đoạn để KS Rolly thông dịch ra tiếng Tagalog. Họ vui mừng
đón nhận và đồng ca bài “Quan Họ Phi” tặng lại tôi.
Khóm trúc sau đình phe phẩy lá như thầm cảm ơn tôi đã bảo
vệ chúng khỏi gầu sắt sát hại của máy xúc. Ngồi bên đập vừa mới
xây, dưới tàn cây phượng tím (jacarranda), tôi mường tượng nước chảy
róc rách vào mùa khô năm tới mà cảm thấy thơ thới trong lòng.
Tạm biệt cầu, đập, suối, hồ. Tạm biệt tất cả!
Về tới nhà anh chị Lâm, cô Hương mang xôi lạc còn bốc khói. Cô
mời tôi ăn lót dạ trước khi ra phi trường.
- Từ ngày chú đến làng, các bà các cô phấn khởi lên.
Câu nói của cô làm tôi suy nghĩ. Tôi không thuộc loại đẹp lão,
con nhà giàu, học giỏi, chỉ có một tấm lòng rộng mở, làm sao có chuyện
phấn khởi. Hay là qua tập Hồi Ký “Hai lần trỗi dạy” truyền tay
nhau đọc, họ biết gia cảnh của tôi, nên muốn ghép hộ để được đi
Mỹ? Trước cửa chùa Vạn Pháp, mỗi khi có ai trêu chọc, tôi chỉ
ngậm ngùi xin thưa:
“Nam mô A Di Đà Phật!
Xin tha cho kẻ bần tăng này.”
Tôi đang nghẹn cổ vì nuốt sôi, chị Khỏe, chủ tịch HĐĐB và anh Bình, phó
chủ tịch HĐĐH tới. Họ cho biết không thể ra phi trường vì
mắc công chuyện sáng nay, nên đến đây chào tạm biệt. Ngoắt tay cô
Hương, chị lấy giọng hát:
“Hát nữa đi Hương. Hát lại bài ca tiễn anh lên đường”.
Chị hát tiếp theo nhiều bài như “Thủa đó anh đi rồi”. Đúng như
tên gọi, chị là người năng nổ nhất làng, vừa là chủ tịch HĐĐB, vừa là
phó chủ tịch hội Phật Giáo. Sáng nào chị cũng sang chùa, thắp
hương khấn Phật, quét dọn, tưới cây quanh chùa rồi mới ra phố lo công
việc. Chị hát karaokê rất hay, vắng chị trong các buổi liên hoan
là làng mất vui. Chị cũng là người hay trêu chọc. Khi tôi
nói: “Mai chúng tôi về Mỹ”, chị bắt bẻ liền: “Anh về bên nớ một mình,
sao dùng chữ chúng tôi”. Trong kỳ thi đi bộ, nhân dip hội làng,
chị chiếm giải ba, bỏ xa các phụ nữ khác.
Phòng khách nhà anh Lâm biến thành phòng ca không đàn, chị Hậu chêm ghế
hoài mà vẫn không đủ chỗ. Cô Út sụt sùi, giọng cải lương:
-Hình ảnh anh đội nón lá rộng vành qua cầu vượt suối, rảo quanh làng sẽ
không còn nữa!
-Không, tôi không chết đâu cô, tôi sẽ trở lại! Tôi trấn an cô.
Mọi người đều phá lên cười.
Người đến sau cùng là anh Tổng, chị Đào. Chị tặng tôi 2 túi, một
túi đựng 6 đùi gà ram thơm phức, một túi chứa 3 ổ bánh mì nóng hổi để
ăn dọc đường!
-Anh chị làm tôi nhớ đến mẹ tôi, mỗi lần tôi ra tỉnh học, mẹ tôi đều
nắm cơm nếp với bọc muối vừng. Cảm ơn anh chị thật nhiều.
-Khi nào suối có nước, tôi sẽ quay phim, và gửi sang bên đó cho anh.
Tới giờ, tôi theo xe anh Lâm ra thẳng phi trường, phi trường cách
làng 1/2 giờ lái xe. Đến nơi, đông đủ bà con chờ đợi, ngoài phố
cũng như trong làng, có người tạm đóng cửa tiệm vài giờ để ra phi
trường. Trò Hoài dúi vào tay tôi một bịch đồ và dặn: “Khi nào lên
máy bay, thầy mới được mở thơ ra đọc”. Tôi nghi là bịch quần áo,
thảo nào hôm đi dạo công viên Âu Lạc, trò cứ đi sát vào tôi để ướm ni
cỡ.
Hành khách phi cảng tò mò nhìn đám đông người Việt, ai tiễn ai mà đông
vậy? Chúng tôi chụp hình lưu niệm trước sân cảng. Tôi bắt
bằng cả hai tay từng người thật lâu. Những lời chúc “Bác, chú,
anh đi bình an, nhớ trở lại!” bập bùng bên tai tôi. Khi giọt nước mắt
đầu tiên bắt đầu lăn trên gò má, chủ tịch làng ra lệnh: “Tan hàng giải
tán, nếu không phi trường sẽ bị lụt!”.
Cuộc tiễn đưa hôm nay làm tôi nhớ tới bài “Tiễn người trên sân ga của
thi sĩ Nguyễn Bính:
Những chiếc khăn màu thổn thức bay,
Những bàn tay vẫy những bàn tay,
Những đôi mắt ướt tìm đôi mắt.
Buồn ở đâu hơn ở chốn này.
Chờ mọi người khuất hẳn, tôi mới bước vào bên trong ga. Trong
phòng chờ, tôi vẫn ngó ra ngoài, lỡ có bà con nào tới trễ.
Nhờ sự quen biết với nhân viên phi trường, KS Rolly vô thẳng bên
trong gặp tôi. Ông cho biết lý do đến trễ vì còn sắp xếp
công trường, đồng thời báo một tin vui: “ Ông đã được cấp phép mở
công ty lấy tên West land Engineering and Construction”; ông mong tôi
sớm sang Phi để thực hiện công tác đợt II. Chúng tôi ôm nhau, hẹn
ngày tái ngộ.
Ngồi trên phi cơ từ Puerto Princesa đến Manila, tôi mở thư của trò Hoài
ra đọc (X. phụ chương 9.2) và bài thơ Kỳ Ngộ do chị HD đọc trong bữa
tiệc tiễn chân do Liên Hội tổ chức tại Vietville restaurant (X phụ
chương 9.3). Mỗi dòng chữ là dòng nước mắt, tôi thương đồng bào
tại Phi, 14 năm khắc khoải mà chưa có một ngày bình an.
Máy bay từ Manila đến San Francisco đang ở cao độ 11,000 m, nhiệt độ
bên ngoài –50 độ C. Bên trên là ánh sáng chói chan, phía dưới là
tầng mây trắng xóa. Dưới vòm mây là quả địa cầu, vùng này
giông gió gào thét, vùng kia trời quang mây tạnh; chỗ này là tiếng khóc
oán than, chỗ kia là nụ cười hân hoan. Lơ lửng giữa không gian,
có một tâm hồn bơ vơ đi tìm Chúa.
Cuối thập niên 80, tôi theo đạo cũng vì lời Chúa “Phúc cho những người
không thấy mà tin”. Cuối thập niên 90, tôi về hưu sớm, cũng
vì lời Chúa đánh động tâm hồn tôi “...mỗi lần các ngươi làm như thế cho
một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta là các người đã làm cho chính
Ta vậy” hay nói một cách khác “không ai thấy Chúa, nếu chính họ không
xả thân phục vụ tha nhân”. Tôi đã thấy Ngài trên bước đường phục
vụ, qua những nét mặt khổ đau, tuyệt vọng cho đến những ánh mắt rạng rỡ
bừng sáng của đồng bào tôi tại Phi. Mỗi lần vấp ngã, Ngài đã nâng
tôi dạy qua những bàn tay nhân hậu của những người anh em mà tôi không
hề quen biết. Tuy cực nhọc về thể xác trên những dặm đường tôi
bước, nhưng tinh thần tràn đầy ân sủng, dào dạt tình yêu, một thứ bình
an khác hẳn với hạnh phúc trần gian mà nhiều người đang theo đuổi.
Máy bay từ từ giảm tốc độ và độ cao để đáp xuống phi trường San Fan,
sau 16 giờ bay bổng.
* * *
Về tới nhà, cảnh vật có phần thay đổi. Ninh nói:
-Chú gầy đi nhiều!
Tôi không cầm nước mắt.
Cả đêm tôi không ngủ được, có lẽ vì giờ giấc, phần khác tôi nhớ làng
khôn tả, nhớ căn nhà 101 đường Âu Cơ, nhớ nhiều lắm.
Hôm sau cân lại, tôi thấy sút mất 5kg!
Trong những tuần kế tiếp, tôi nhận được nhiều điện thư từ đảo, trong đó
có một điện thư, nguyên văn như sau: “...Mặc dầu hàng ngày không gần
anh, nhưng có anh trong làng, mọi người cảm thấy ấm lòng. Anh đi
rồi, mới thấy thiếu vắng, và mất mát. Anh là típ người chỉ biết
cho đi mà không bao giờ nhận, chỉ nghĩ tới người mà quên cả bản thân
mình...Mỗi tối, tụ tập tại nhà anh Trương, tụi em ngồi uống trà, nhắc
đến anh, không biết bên đó anh có nhảy mũi không? Hồi ký “Hai lần
trỗi dạy” được mọi người thay phiên nhau đọc, hết người này mượn đến
người kia làm em cảm động vô ngần...” (Ký tên HN)
Xem tiếp
Phụ Chương 9.1: Thư của chị Minh Hậu