
Xin cho em một lần sáng mắt
Cuối năm 2002, tôi về quê.
Quê tôi thuộc làng Xuân Bảng, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam
Định. Làng tôi đẹp như một bài thơ, có cây đa, cây
bàng lá đỏ nằm kề bên nhau, có sông sâu uốn khúc.
Trời se lạnh. Tôi co ro băng
qua con đường đất phẳng phiu, thơm mùi lúa chín, để tới
nhà thím T. Thím năm nay ngoài 80, tóc bạc phơ, mù lòa
gần 30 năm, nhưng còn khỏe mạnh. Tôi chưa kịp giới
thiệu, thím ôm chầm lấy tôi, nước mắt chảy thành dòng,
hai bàn tay gầy guộc sờ soạng từ đầu tới cổ tôi, đoạn
thốt lên:
-Bác dạo này trông khỏe nhưng
gầy!
Thím vào bếp lấy bình thủy
đựng nước vối nóng, tráng cốc bằng nước sôi giống như
một người pha trà sành điệu, rót nước mời khách.
Thím cho biết: ngoại trừ việc nấu nướng, thím tự lo lấy
mọi việc trong nhà, từ vệ sinh cá nhân cho đến trông
nom 3 cháu nội để bố mẹ chúng rảnh tay lo việc đồng áng.
Những nét nhăn chạy ngang
dọc trên khuôn mặt thím, cả đời lam lũ để rồi kết thúc
trong bóng đêm dày đặc. Thím nghẹn ngào:
-Em đã chạy hết thày, hết
thuốc. Em cầu Trời khấn Phật chữa lành đôi mắt để
một lần nhìn thấy con em, cháu em, họ hàng bà con làng nước,
mồ mả tổ tiên, đình chùa lăng miếu. Rồi em nhắm
mắt cũng cam lòng.
Gió bấc luồn qua song cửa.
Kéo tâm phên cản gió , thím thở dài luyến tiếc những ngày
đã qua.
****
Hồi đầu thập niên 40, làng
tôi cũng như các làng khác thuộc châu thổ sông Hồng trải
qua những năm tháng thanh bình nhưng cơ cực, đổi bát mồ
hôi đầy lấy bát cơm vơi. Cả làng không có một nguồn
nước trong sạch. Thường thì dăm gia đình chung nhau một ao
rộng khoảng 2 sào, nơi đây được dùng để đánh răng rửa
mặt, giặt giũ quần áo, tắm rửa, vo gạo, rửa ráy thức
ăn v. v. Vì là ao tù, nước xanh xao, bùn sền sệt, nhiều
bệnh truyền nhiễm trong đó có bệnh đau mắt, phát xuất
nơi đây. Nước mưa, nước gánh từ ao sen trên chùa,
hoặc ngoài sông chỉ dùng để nấu nướng.
Tính tình hiền dịu, thím
không bao giờ nề hà công việc nặng nhọc, nên mọi người
quí mến . Thím hay dụi mắt khi làm những việc bụi
bặm như rê thóc, xay thóc, suốt lúa, nhất là lùa thầu dầu
(loại lúa có lông nhọn và sắc). Để tiện lau nước
mắt, thím lúc nào cũng đeo bên mình một vuông vải trắng
đã ngả sang màu cháo lòng. Mỗi khi mắt đỏ, thím thường
hái lá dùng dành bên bờ ao, giã nát rồi đắp lên mắt; đau
nặng lắm, thím mới nhỏ vài giọt hoàng liên, tạo nên những
vệt vàng loang lổ trên mặt.
Tôi ít khi thấy thím cười,
khuôn mặt thím chỉ rạng rỡ đôi chút vào những năm được
mùa, thím cùng với hai người nữ khác nhịp nhàng đạp cần,
tiếng chầy giã gạo hòa nhịp với tiếng sáo diều vi vút
trong không trung.
Vào những năm mất mùa, nhìn
thím nhai cơm độn ngô, chan nước vối, tôi thấy thương thím.
Có lần tôi lén lút dúi một con cá khô –phần ăn của tôi-
vào bát thím.
Nước mắt chảy thành dòng,
thím run run nói:
-Bác ăn đi, có sức mới học
thành kỹ sư, bác sỹ.
-Tôi nhường cho thím đấy!
Lúc đó, tôi học lớp đệ
tam trường trung học Hồ Ngọc Cẩn, Bùi Chu, thày Bằng giảng
đoản văn “Nếu tôi có ba ngày để trông” do Helen Keller
viết. Bà bị mù lòa và câm điếc từ năm 2 tuổi; nhờ
kiên trì, bà đã tốt nghiệp văn bằng tiến sĩ và trở thành
văn sĩ nổi tiếng. Lời thầy giảng như rót vào tai,
tôi cảm thông sâu xa những nỗi bất hạnh lớn lao của người
khiếm thị, và linh cảm rằng Trời cao sẽ cướp đi đôi
mắt dịu hiền của thím.
Năm 1977, tôi có dịp về thăm
quê sau hơn 23 năm xa cách, đôi mắt thím đã lòa, nhìn xa thấy
mờ, nhìn gần cũng thấy mờ. Tôi đưa bàn tay qua lại trước
mặt thím và hỏi:
-Thím có thấy gì không?
-Em chỉ thấy bóng bàn tay
của bác!
Bên My,õ tôi đã chứng kiến
một cuộc hội thảo dành cho người mù từ khắp các tiểu
bang đổ về, được tổ chức tại khách sạn Hyatt, New Orleans,
gần sở tôi làm. Với chiếc gậy thần, họ đi thong
dong trên hè phố, đông đúc người qua lại. Họ thoải
mái đọc sách, viết văn, đi du lịch, trong khi người
mù xứ tôi sờ soạng bóng đêm giữa ban ngày, âm thầm chịu
đựng những nghiệt ngã của kiếp người!
Tiếng khóc của thằng Út
“Bà ơi! con đói” ngắt ngang câu chuyện. Thím xin phép
vô chạn lấy chén cơm, một lát cá kho, chan thêm hai muỗng
canh mùng tơi và trao cho nó.
Những tiền bạc, thuốc men,
quần áo tôi mang về tặng thím cũng không làm vơi đi
những sầu muộn chất chứa trong lòng. Tôi phải làm
hơn thế nữa, trả đôi mắt về cho thím. Lạy Chúa!
xin chỉ đường dẫn lối cho tôi đi như Chúa đã làm cho người
mù thành Giê-ri-khô sáng mắt.
Năm 2003, tôi phải hoàn tất
dự án tưới tiêu đợt I tại làng Việt Nam, Palawan, Phi luật
Tân, nên năm 2004, tôi mới tập trung lo việc “khơi nguồn
ánh sáng”. Hai việc cần ưu tiên giải quyết, đó là
tiền bạc và chuyên viên chữa trị.
Hàng năm tôi thường dành
dụm một số tiền để khi về hưu, mua xe mới thay thế chiếc
xe Nissan đời 91, cũ kỹ ọp ẹp. Mơ ước của tôi là
đi du lịch vòng quanh nước Mỹ bằng xe hơi. Tôi đã
phác họa sẵn một lộ đồ “dừng chân ghé bến”, đi cả
5 năm nữa cũng không xem hết cảnh đẹp.
Thế nhưng! để có tiền
chữa trị, tôi đành hủy bỏ ý định mua xe mới, xé rách
lộ đồ. Chọn lựa nào cũng đòi hỏi một sự hy sinh.
Đồng tiền tôi dành dụm giống như đồng tiền của bà góa
trong Thánh Kinh, nó quá nhỏ bé so với những bất hạnh lớn
lao của đồng bào “tật nguyền, bóng tối, đói rách”.
Tôi muốn đóng góp nhiều hơn nửa. Ngó quanh, đồ đạc,
quần áo trong nhà chẳng có gì đáng giá; nếu đem bán garage
sale hay Salvation Army, số tiền thu được chẳng là bao!
Sau Tết, tôi dự định nhận thêm một số việc “part time”
để có thêm phương tiện thiện nguyện.
Trong thung lũng Silicon, nơi
tôi cư ngụ, có rất nhiều bác sĩ nhãn khoa tài danh.
Vị nào cũng tốt nghiệp tại các trường y khoa nổi tiếng
tại Hoa Kỳ, chuyên giải phẫu mắt cườm bằng tia laser.
Đầy rẫy những quảng cáo trên báo chí như máy laser
hiệu Iol Master cực kỳ chính xác, kỹ thuật siêu âm không
phát nhiệt, hút cườm qua vết thương 3 ly, không chỉ khâu
v. v. Nhiều thông tin thương mại đầy văn nghệ tính như:
“Con mắt là cửa sổ của tâm hồn, nhưng có cửa sổ mà
không nhìn rõ, cũng như không“ hoặc mang màu sắc chính trị
với lập trường 4 không “không phân biệt nặng nhẹ, không
nghỉ làm, không cần may hay chụp thuốc mê, không có biến
chứng”.
Khi được hỏi giá cả một
ca phẫu thuật, các vị đều cho biết: Khám bệnh lần đầu
là 150 MK, chi phí mổ khoảng 2500 MK.
Trời ơi! sao mắc quá vậy.
Đấy là chưa kể những phí tổn khác như ăn ở, di chuyển,
bảo lãnh v. v. Tôi hơi thất vọng.
Thu đã sang, lá vàng chen lẫn
lá xanh trên đường đi tới nhà anh bạn, tôi đến để
vấn kế anh vì trước đây anh và họ đạo đã từng bảo
trợ một vài cha già sang đây chữa mắt. Trong khi ngồi
đợi anh tại phòng khách, tôi dò kiếm đài CNN để xem tin
tức, tình cờ bấm phải đài truyền hình Viên Thao, đang chiếu
một thiên phóng sự nói về hoạt động của Hội Giúp Người
Mù tại Việt Nam. Nước mắt tôi tuôn trào lúc nào không
hay, khi chứng kiến trên màn ảnh bệnh nhân sáng mắt sau một
ca mổ, niềm xúc động của họ tràn dâng,ỉ không bút nào
ta ũxiết. Trên suốt đường về, lời của xướng ngôn
viên vẫn còn văng vẳng bên tai: “chỉ cần một khoản tiền
không lớn ( 500,000 ĐVN), một khoảng thời gian ngắn (15 phút),
cuộc đời của một người mù do bị đục tinh thể thay đổi
hoàn toàn”
Sáng hôm sau, tôi gọi điện
thoại cho ông chủ tịch Hội Giúp Người Mù Đỗ Vẫn Trọn
để xin một cái hẹn vào chiều ngày 6-10-04.
Ông tiếp tôi một cách thân
tình trong phòng khách khá rộng, vừa dùng làm văn phòng.
Sau khi tự giới thiệu, tôi đi thẳng vào vấn đề:
-Xin ông Chủ Tịch vui
lòng xác nhận chi phí một ca giải phẫu mắt cho người mù
là 500,000 đồng Việt Nam.
-Đúng vậy! Hội chúng tôi
đã thực hiện 1000 ca phẫu thuật trong tỉnh Gia Lai. Hội
dự định khơi nguồn ánh sáng cho người dân ở các tỉnh
nghèo từ Quảng Trị trở vào, rồi đến cả nước, hiện
nay trong nước có 350,000 người mù do bi đục thủy tinh thể.
Ngoài ra, ông cũng còn cho biết
nếu cá nhân hay hội đoàn nào đóng góp một số tiền, Hội
sẽ đóng thêm một số tiền tương đương, tất cả đều
dùng vào việc làm sáng mắt cho người mù tại quê nhà.
Tiếp lời, tôi trình bày:
-Quê tôi ở Nam Định, một
tỉnh bị tàn phá nặng nề trong 3 cuộc chiến, lại thêm nạn
đói 1945. Trước mắt, chúng tôi xin được đóng góp
10,000 MK, và đề nghị quý Hôi chỉ sử dụng số tiền 20,000
MK vào việc làm sáng mắt cho những người mù tại tỉnh Nam
Định, theo thứ tự ưu tiên dưới đây:
1) đồng bào khiếm thị đang cư ngụ tại làng Xuân Bảng
thuộc huyện Xuân Trường, và làng Hoành Lộ thuộc huyện
Giao Thủy
2) đồng bào khiếm thị trong huyện Xuân Trường và huyện
Giao Thủy.
3) các huyện khác trong tỉnh.
Ông cho biết không gì trở
ngại.
Trước khi chia tay, thay mặt
cho một số đồng bào khiếm thị tỉnh Nam Định, tôi chân
thành cảm ơn ông Chủ Tịch và cầu chúc quý Hội mạnh tiến
trên đường phục vụ tha nhân.
Chiều ngày 24-11-04, tôi hân
hoan trao tận tay Hội chi phiếu. Với số tiền 20,000 MK,
chúng tôi sẽ đem lại nguồn ánh sáng không những cho thím,
mà cả 600 đồng bào mù lòa khác trong tỉnh.
Hội dự định sau Tết
ta sẽ tiến hành và mời tôi cùng đi.
Tôi chỉ tiết lộ chuyện
này cho đến khi mắt thím được chữa lành. Sau đó,
tôi về quê, hướng dẫn thím đi thăm đình làng, một công
trình kiến trúc đẹp nhất trong vùng, tất cả cột và xà
đều bằng đá xanh lấy tại tỉnh Ninh Bình. Tôi sẽ
kể cho thím nghe câu chuyên xây đình vào đầu thế kỷ 20,
do cụ Hoàng Thọ Tụ và cụ Bùi Đức Phu, bác ruột tôi, đảm
nhiệm. Tôi sẽ dẫn thím đi thăm thật nhiều thắng cảnh
khác cho thỏa lòng mong ước của thím ấp ủ từ 30 năm.
*
Sáng hôm nay (25-11-04) tôi dậy
thật sớm để tham dự lễ Tạ Ơn tại nhà thờ St Patrick.
Tạ ơn Trời, và cảm ơn người. Lời cầu xin của tôi
đã được đáp ứng và ước mơ của thím “Xin cho em một
lần sáng mắt” sẽ thành sự thực. Ất Dậu 1945 đã
gây nạn đói kinh hoàng cho tỉnh tôi, Ất Dậu 2005 sẽ đem
lại niềm vui vô tận không những cho thím mà cả hàng
trăm đồng bào “tật nguyền, bóng tối, đói rách” khác
. Quả là một phép lạ từ trời cao đổ xuống!
Lòng tôi hân hoan nhảy múa,
theo nhịp điệu của bài thánh ca:
“Lời con như trầm hương,
bay lên tới thiên đường,
cho lung linh ánh nhiệm
màu...”
Thanksgiving 2004
Bùi Đức Hợp