TRẦN-SĨ-HUÂN
(Dưới
đây là tự truyện của một công chức ngành
Công-Chánh từ
1954 đến1975 cuả chế độ Miền
SAIGÒN – ĐÀNẴNG
Tuy nhiên lớp chúng
tôi vẫn ra trường
đúng ngày đã định.
Trong hoàn cảnh đó, giơí sinh viên
chúng tôi sắp ra trường rồi vẫn thấy tương lai mờ
ám trước cửa ải động viên hăm
he chờ sẵn. Để lấy lòng dân, Ban tham mưu của ông
Diệm biết tâm lý ấy nên đã đề
nghị ông Diệm bãi bỏ lịnh động viên .
Rời Saigon giữa muà hè oi bức, mưa rào nắng chói, trong không khí ngôt ngạt của thời cuộc đổi mới, tôi không khỏi bồi hồi nhớ laị những năm tháng vưà qua.
Vào
khoảng giữa đường Mạc-Đĩnh-Chi, phía bên trái
là Trường Tiểu-Học Gia Hội, phía
bên mặt là một cái ao-hồ rộng độ 5 mẩu, xưa kia
người ta trồng cây “Ấu” có trái
hình góc nhọn nên gọi là “Ấu Hồ”, sau khi
đọc trẹo lại thành Ô-Hồ. Trường Tiẻu-Học
Gia-Hội là một cơ-sở rộng rãi, cao ráo, xây
theo hình chữ U. Cổng trường xây cất
theo lối kiến trúc xưa, có maí che lợp ngói
đỏ gồm một cưả chính và hai cưả phụ
hai bên rất uy nghi. Cổng naỳ bị phá huỷ từ năm 1952
vì thiếu tiền tu bổ, thật
là đáng tiếc. Năm 1946, trường này được
dùng làm Chợ Phiên triển lãm cho cả
thành-phố Huế và năm 1948, dưới thời cụ Ưng Quả
làm Giám Đốc Nha Học Chánh
Trung phần, địa điểm này đựơc chọn làm trường thi Trung
Học Đệ Nhất Cấp đầu
tiên bằng tiếng Việt taị Huế.
Bên
cạnh trường Gia-Hội,
ở phía dưới là đường hẽm lao động, nơi cư ngụ của đủ hạng
thợ thầy như thợ mộc,
thợ rèn, thợ sơn, thợ nề, thợ ống nước v.v…Ngoaì lực
lượng thợ thuyền còn có một
ngành bán hàng gánh như buổi sáng
có bánh mì ổ, bún bò, đậu hủ, đậu
phụng rang,
chè đậu xanh, đậu ván, chè kê, lúc 12
giờ trưa có khoai lang, bánh nậm, bánh hỏi,
phở Huể, bắp nấu Đò Cón, cháo gà,
lúc 6 giờ chiều có cháo lòng, cháo
vit của
thím Viện, hột vịt lộn, chè đậu xanh v.v…Bên cạnh
các hàng gánh còn có các
quán
mở rãi rác ở đầu xóm Ô-Hồ như bánh
khoái, bún bò mụ Rớt, bánh canh mụ Lợi,
chè đá
ông Thân…Dọc theo đường Mạc-Đĩnh-Chi, phía bờ hồ
có một chùa nhỏ tục gọi là
chùa Thầy Trầu vì ông này ngoài việc
tụng kinh gõ mõ còn coi bói theo lá
trầu của
người có công chuyện muốn xem thời vận. Thời đó nhu
cầu cúng kiến cuả dân chúng
nhiều đến nỗi xung qua Ô-Hồ còn có các
chùa khác như chùa Thanh-Cao, chùa
Phước-Điền,
chùa Từ-Quang, chùa Ông và chùa
Diệu-Đế và một số am miểu cúng thồ cô-hồn bạc mệnh
mà người mê tín thường cho là rất linh
thiêng. Ở cuôi xóm, trườc nhà của cụ
Dương-Đình-Hòe,
có một đường hẽm đầy nhà cửa lụp xụp của nhân
dân lao-động nghèo nàn, trong đó
có nhà của thi-sĩ Thanh-Tịnh, công chức sở
Ngân-Khố Huế, người đã nổi tiếng
trên thi đàn qua bao nhiêu baì thơ
tình lãng mạn, phảng phất chất đấu tranh.
Sau năm 1946, thi sĩ tập kết ra Bắc và ông nhà
báo Phạm-Bá Nguyên đã đến ở đó
xuất bàn tờ báo Công-Lý được it lâu
thí bị đóng cửa. Đời sống ở xóm Ô-Hồ xem như
không có gì thay đổi mấy măc dù dân số
có đông hơn. Đó là điều may mắn trước
tiên tôi được về thăm xứ Huế sau năm năm xa xứ học
hành.
Tôi ở nhà được mấy hôm thì đến
ngày
trình diện nhận việc ở Khu Bắc Công Chánh Trung
Phần. Ông Trưởng Khu người Pháp
tên là Henri Bono, sau khi hỏi thăm sơ qua vài
câu xã giao, đã cử tôi làm Phụ
tá
Trưởng-Ty Quảng-Nam, trú sở đặt tại Đà Nẵng, cách
Huế 100 cây số về phía Nam.
Thế là tôi lại khăn gói lên đường …
Qua
tháng 6 năm 1955, Khu
Công-Chánh Huế cử tôi làm đại diện
Công-Chánh tại Hội-An, thay thế ông
Đinh-Gia-Bái
hoán bổ làm Trưởng-Ty Công-Chánh
Khánh-Hòa ở Nha Trang. Thị-trấn Hội-An là nơi
đặt văn phòng Tòa Hành-Chánh Tỉnh Quảng-Nam
và các cơ quan cấp Tỉnh, ngoại trừ
Ty Công-Chánh thì văn phòng lại ở
Đà-Nẵng vì lý do thiếu công ốc và
vì phải tu
bổ kịp thời Quốc-Lộ 1, từ đèo Hải-Vân ở phía Bắc
đầu Tỉnh, Do đó ở Hội-An chỉ có
Chi Công-Chánh phụ trách công tác
Thị-Xã. Đây là dịp đầu tiên tôi lập một
vài hồ
sơ kỹ thuật sơ-sài, tu bổ Cầu Chùa, công ốc,
công sở, sưả sang đường sá trong
Thị-Xã. Trong thời gian ngắn ngủi không đầy sáu
tháng ở Hội-An, có lần tôi được
chỉ thị dựng một khán đài rộng lớn để đón
Thủ-Tướng Diệm và phái đoàn chính phủ.
Dịp này tôi gặp lại ông Trần-văn-Bạch, Bộ Trưởng
Công-Chánh, cựu giáo sư và giám
đốc Trường Công-Chánh. Thầy trò gặp nhau mừng rỡ,
nhưng caí đinh cuả buổi lễ là
việc chấp nhận 500 cán bộ Quốc Dân Đảng từ các
vùng rừng núi Quảng-Nam về hợp tác
với chính phủ. Tôi thấy Thủ Tướng gắn Đệ ngũ đẳng Bảo Quốc
Huân Chương cho Thiếu
Tá Tỉnh Trưởng Lê Khương và ông Nguyễn Chữ,
Giám Đốc Công An Trung Phần. Tôi hơi
ngạc nhiên vì ông Chữ với tôi từng ở trọ chung
một nhà ở số 202 đường Boudonnet
(tức là đường Lê Lai) Saigon trong suốt năm học 1951-1952,
thế mà tôi chỉ biết ông
Chữ qua một giáo viên Tư Thục, một Hoạ viên
Công-Chánh, có sở trường về hướng đạo,
chứ không biết gì về quá khứ hoạt động cách
mạng cuả ông ấy. Sau naỳ mới rõ ông
Chữ là một trong những người có mặt tại trụ sở
Ôn-Như-Hầu, Hà Nội trong thời
gian Quồc Dân Đảng chống đối Việt-Minh (1945-1946). Ông ấy
bị Việt Minh bắt đem
vào giam ở Quảng Ngãi, nhưng ông đã vượt
ngục, lội ra biển theo thuyền đánh cá đi
Đà Nẵng trốn thóat. Tuy nhiên sau một thời gian
ngắn 500 cán bộ đã bị phân tán
mõng, còn ông Nguyễn Chữ thì bị mất chức
Giám Đốc. (Ngày 8-7-63 ông bị đưa ra
Toà về tội can dự cuộc đảo chính 11-11-60. Năm 1965
ông Chữ bị ám sát ở chợ Tân
Định Saì Gòn.)
Trong
lúc tôi đổi vào Hội-An
thì vợ tôi có thai mà nhà cửa chỉ gồm
có một căn phố làm văn phòng và nhà
ở cuả
Trưởng Chi nên vợ tôi phải ở laị nhà ba me tôi
để nhờ chỉ vẽ lúc sanh con đầu lòng.
Ngày 22-5-1955 tôi được điện tín vợ tôi sanh
cháu trai, tôi liền xin nghỉ ba ngày
sau đó để về nhà thăm. (Mới đó mà nay
đã được 55 năm rồi !)
Tôi
ở Hội An 6 tháng thì được
Khu Công-Chánh đổi về làm Trưởng-Ty Dụng Cụ
Công-Chánh Đà-Nẵng thay thế Kỹ-Sư
Euremberg người Pháp về hưu, để phụ trách tiếp thu một
phần dụng cụ, xe cộ, cầu
đà sắt cuả cơ quan Công-Chành Bắc Việt di cư
vô Nam theo hiệp định Geneve. Ông
Trương-Văn-Huế lúc này đã lên Trưởng Khu hết
lòng giúp tôi và khuyên tôi tự
học
thêm về cơ-khí để tiến thân. Đăc biệt lúc
này thì tôi được cấp một cái nhà
riêng
làm chỗ ở, đầy đủ tiện nghi, và đó cũng là
cái may thứ hai mà tôi có được. Vợ tôi
và cháu trai vào ở chung một chỗ, đến một buổi
sáng người ở mới bồng cháu Chương
ra khỏi nôi thì ầm một tiếng, cái trần nhà ở
trên cái nôi sụp xuống, may mà cháu
Chương đã bồng ra khỏi nôi rồi. Cháu Chương bị bịnh
ghẽ lỡ đầy người chửa hoài
không khỏi, may nhờ gặp Bác-sĩ Trần-Đình-Nam chửa
thuốc thích hợp mới lành . (Bác-Sĩ
Trần-Đình-Nam, Bộ Trưởng Nội Vụ, Chính Phủ
Trần-Trọng-Kim, mất năm 1973 mộ chôn
tại Đà-Nẵng, cạnh núi Ngũ
Hoành Sơn).
Ty
Công-Chánh Dụng Cụ có
một văn phòng do ông Trần-Ngọc-Lan làm Trưởng
Phòng, một Cơ-Xưởng và một Kho khà
lớn để chứa xe và vật liệu cần thiệt do ông Trần-Hưng-Sỹ
điều khiển. Xe ở các
Ty bị hư đều đem về Ty Dụng Cụ sưả chửa.
Nguyên vào khoảng cuối năm 1955, ông
Ngô-Đình-Diệm
trong lúc chuẩn bị tổ chức Trưng cầu Dân ý, truất
phế Quốc Trưởng Bào-Đại vào
ngày 4-3-1956 thì một tu sĩ công-gíáo
ở Huế vô Saigon nói vơí ông Diệm rằng ở
ngoài Trung thiếu gạo ăn, dân sắp chết đói, vậy
muốn dân bỏ phiếu thuận lợi thì
xin chở gạo tiếp tế ra gấp. Ông
Diệm bèn cho lịnh ông Trần-Văn-Mẹo, đương kiêm Bộ
Trưởng Công-Chánh kiêm nhiệm Bộ Trưởng Kinh-Tế thi
hành. Ông Mẹo chỉ định ông
Ung-Bảo-Toàn, Giám Đốc Nha Dụng Cụ Bộ
Công-Chánh là người tin cậy, lo vịệc đó.
Chuyện xảy ra ở
-
Phổ biến tin bán gạo
theo giá chính thức 600$ một tạ cho các công
sở và đoàn thể, chứ không bán riêng
rẽ cho từng người.
-
Thâu tiền, phát biên
lai.
-
Hằng ngày trước 4 giờ
chiều đem tiền nạp cho Công Thương Ngân Hàng
vào trương mục cuả ông Nguyễn-Văn-Mô,
Tổng Thư Ký Bộ Kinh Tế.
Ông
Toàn đích thân đứng
ngoài bến tàu nhận gạo và phát gạo cho
các công sở hoặc đoàn thể nào có
phiếu
mua gạo do tôi giới thiệu. Ngoài ra ông Toàn
còn trưng dụng xe camion-benne của
Công-Chánh và một số toa xe lửa chở gạo đến Quảng
Ngải, Huế, Quảng Trị.
Tổng
số tiền gạo tôi thâu
được riêng tại Đà-Nẵng nạp cho Công-Thương
Ngân Hàng là vào khoảng 40 triệu đồng.
Vài tháng sau, một ông tu sĩ công
giáo
khác đi qua phà Trà-Khúc, Quảng Ngải, thấy
lính bắt một thuyền Việt Cộng chở gạo,
liền vào Saigon trình ông Diệm rằng ông
Toàn đem gạo bán cho Việt Cộng. Thế là ông
Diệm ra lịnh mở cuộc điều tra .
Tại Đà-Nẵng, vào một chiều thứ bảy, tôi
đang ở nhà thì lính mũ đỏ đến bắt đưa về Ty Hiến
Binh khai baó. Tại Ty Hiến
Binh tôi trình rõ sự việc và được trả về Ty
Dụng Cụ để lấy giấy tờ chứng minh đầy
đủ. Đến phòng Dự Thẩm ngay chiều hôm đó, tôi
trả lời đã thi hành việc bán gạo
theo lịnh Bộ Công-Chánh và trình công
điện cuả Bộ ra, nhờ vậy tôi được thả về.
Trong thời gian đó, tất cả thương gia nào dính
dáng đến vụ mua gạo Bộ Kinh-Tế đều
bị bắt đìều tra. Riêng ông Tòan thì
than thân trách phận hẩm hiu, xem như là bị
vắt chanh bỏ võ, vì thi hành lịnh thượng cấp
má phaỉ bị tù đày nhục nhã. Trong
một phiên Toà ở Đà-Nẵng, ông
Ung-Bảo-Toàn xin Tòa cho xem cái bao đựng gạo tang
chứng mà công an đã bắt được. Sau khi xem
xét, ông Toàn trình Tòa rằng
caí bao
naỳ không có dấu hiệu gì ở ngoài tức
là không phải cuả Bộ Kinh Tế vì bao gạo nào
cuả Bộ Kinh Tế cũng có chữ EN, tức là Economie Nationale,
còn cái bao tang chứng
này là cuả địa phương. Kết qủa Tòa xử ông
Tòan tử hình, sau được ông Diệm giảm
xuống tù chung thân, đày đi Côn Đảo. Một số
người khác thì bị án từ 1 đến 10 năm
tù. Ông chủ hãng tàu chở gạo ngao
ngán cho tình đời đã cạo đầu đi tu ở núi
Thất-Sơn,
Long Xuyên. Riêng tôi được thoát nạn mặc
dù đã dính lìu từ đầu, âu cũng
là cái
may nên tai nạn qua khỏi.
Theo nhận định cùa tôi trong vụ này,
nếu ông Toàn đem gạo ra Đà-Nẵng mà bị địa
phương từ chối tiếp nhận thì hãy trở
về Saigon trình thượng cấp quyết định, chứ ở laị đương đầu
làm chi để rồi mang
họa vào mình, ở tù 7 năm cho đến ngày
1-11-63 mới được thả ra. Ngoài ra tại sao
Bộ Kinh Tề dùng nhân viên và phương tiện Bộ
Công Chánh bán gạo cho dân chúng
mà
lại không giao cho Nha Kinh Tế Trung Phần và các Ty
Kinh Tế địa phương. Laị nữa,
nếu nói ông Toàn bán gạo cho Việt Cộng
thì chính quyền địa phương gồm đủ công
an, cảnh sát làm gì mà để một mình
ông Tòan từ Saigon ra có thể tung hoành giữa
thanh thiên bạch nhật. Thật là khó hiểu. Tuy
nhiên trong một chế độ dân chủ phôi
thai, khi mà một đoàn thể công khai đứng sau lưng
giựt dây cả ba ngành lập pháp,
hành pháp vá tư pháp thì chả
có gì mà khó hiểu cả.
Sau khi Toà ra án xong xuôi, ông
Trương-Văn-Huế,
Trưởng Khu đã viết công văn khen ngợi tôi đã
chu tất một công việc đa đoan, khó
thực hiện.
Đến ngày 26-11-56, vợ tôi lại sanh hạ
thêm đuá con thứ hai, lần này thì là
con gái nên chúng tôi đặt tên là
Hoàng-Anh.
Đến tháng 6 năm 1957, tôi được lịnh
Khu Công-Chánh đổi ra Huế thay thế ông Phạm Nghị bị
bán thân bất toại phải nghỉ
việc.
Như vậy sau 3 năm ra trường
(1954-1957), tôi mới được về Huế làm Trưởng Ty
Công-Chánh thực sự vào năm tôi
26 tuổi./.
TRẦN-SĨ-HUÂN