Năm Mùi, thử tìm hiểu chữ D (và Dz) trong tiếng Việt


Nguyên Nguyên

Năm Mùi, năm con Dê chắc không có gì thích hợp bằng thử tìm hiểu và khảo sát về chữ D trong tiếng Việt.
Trước hết, Mùi thật ra là một từ Nôm, chứ không phải Hán Việt như thường dễ lầm tưởng. Mùi theo tự điển chữ Nôm của Vũ Văn Kính, chỉ có một cách viết, giả tá từ chữ Hán Việt: VỊ. Thành ra Mùi, một trong 12 con giáp, mang nghĩa chính: Mùi Vị. Hoàn toàn không có con thú nào mang tên con Mùi cả. Chỉ có năm Mùi, tuổi Mùi, chứ không hề có con mùi dùng để chỉ con dê. Tự điển Hán Việt của Đào Duy Anh ghi Mùi: 'Vị thứ 8 của 12 địa-chi'. Địa-chi chính là từ cổ của con Giáp, 12 con giáp. Vị thứ 8 mang nghĩa vị trí thứ 8, đếm từ: Tí, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ . . . MÙI. Rồi kết thúc bằng: Thân Dậu Tuất Hợi.
Có người cũng thắc mắc tại sao năm Mùi trong tiếng Tàu lúc dịch ra tiếng Anh, khi thì Năm Con Dê (year of the Goat), khi thì Năm con Cừu (year of the Ram). Hỏi một người Hoa, nói tiếng Quảng Đông hay tiếng Quan thoại, người Hoa đó có thể gặp lúng túng không ít bởi đây chính là một trong những điểm yếu nhất của tiếng Tàu, về phía danh từ. Không hiểu vì sao, họ chỉ dùng mỗi một từ để chỉ cùng một lúc con Dê và con Cừu (trừu).  Đó là Dương (yang). Chữ Tàu viết ra Dương theo lối tượng hình, xem gần gần xa xa rất giống hình con Dê hay con Cừu đang ngồi đối mặt. Dương trong 'Biển Thái Bình Dương' cũng vay mượn Dương của con dê con cừu, vàkèm thêm ba vạch nhỏ chỉ Nước, bộ Thủy. Dê xồm, quan thoại gọi Lao gong yang (Lão công dương), dê sữa gọi nai yang (nại yương), cừu con hoặc dê con gọi yang gao (dương cao). Thỉnh thoảng nếu muốn phân biệt người Hoa sẽ gọi Shan Yang (sơn dương  con dương núi) để chỉ DÊ, và Mián yáng (miên dương) cho con CỪU. Miên có nghĩa bông tơ. Miên dương là con dương cho lông làm tơ sợi, tức Cừu. Vào một tiệm Tàu ở Uùc thỉnh thoảng người ta thấy trong thực đơn món shuán yáng róu (loát dương dục) tức lẩu dê, thường dịch sai sang tiếng Anh là Lamb  Steamboat. Lamb tiếng Anh chỉ có nghĩa cừu non, cừu tơ -  trong khi Lamb steamboat dùng để chỉ món lẩu dùng thịt Dê, lẩu dê. Điểm này chính những người Hoa, ít khi đi ăn tiệm với những món này,  đôi khi cũng lầm. Họ lầm Lamb steamboat là lẩu thịt cừu tơ, chứ thật ra: Lẩu Dê.

Thịt dê nổi tiếng là một thứ thịt ít chất mỡ và có rất nhiều vị thuốc bổ. Thịt dê nhiều khi được dùng như một thứ thịt giả cầy, giả thịt chó cho dân hâm mộ thịt cầy  nhất là những người xa xứ. Thật ra, hai món trứ danh nhất của dê vẫn là lẩu dê và cà-ri dê. Lẩu dê xuất xứ từ bên Tàu, phía Bắc. Cà-ri dê bắt nguồn từ Aán Độ. Lẩu dê thường ăn vào mùa đông, và theo vị thuốc, thuộc chất "dương" đem lại ấm áp cho cơ thể. Cà ri dê thì khỏi nói, nó cũng cay và hoàn toàn dương, dương kiểu Aán. Thành ra dê cũng lại ngẫu nhiên một thứ thịt duy nhất của bán đảo InĐô-China, tổng hợp được một lượt ảnh hưởng bếp núc của Ấn và Hoa, cà-ri dê và lẩu dê.

Bây giờ xin hãy nhìn kỹ chữ D. Nó rất lạ. So với hầu hết các ngôn ngữ dùng mẫu tự La-tinh, D-Việt thật kỳ lạ. Nó không có phát âm Đ như bất cứ thứ tiếng nào như tiếng Tây, tiếng Anh (dans, dentist, doctor, déja-vu, dancing, diaspora, . . .) mà lại phát âm như Y trong như tiếng Anh, tiếng romanji của Nhật, tiếng pinyin của quan-thoại. Yes, you, yell, yesterday, Yul Brynner, Yamamoto, Yamada, Fuji-Yama, Yang Guo (Dương Qua), Yang Gui Fei (Dương Quí Phi), yu bao (dự báo), biao yan (biểu diễn), . . .. Thật lạ. D dùng để phát âm thay cho Y. Chỉ ở một lý do đơn giản: Những tác giả đầu tiên của chữ quốc ngữ là những cố đạo, giáo sĩ, trước hết người Bồ Đào Nha, và sau đó người Pháp. Tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Pháp thông thường không xài chữ cái Y.

D-Tây đã được gượng gạo dùng cho các âm đáng lẽ phải dùng Y. Yung nhan, thôn yã, yung yịch, yũng cảm, v.v. đã được viết: dung nhan, thôn dã, dung dịch, dũng cảm, v.v.. Do đó D-tây (đọc Đ) bị trống chỗ. Các tác giả ban đầu của quốc ngữ mới mượn mẫu tự Đ từ bộ chữ a-b-c (alphabet) của tiếng nước Iceland (Băng Đảo) nằm phía Bắc nước Anh, đem trám vào vị trí của D-Tây:  Đ.

Để tránh lộn xộn chúng ta nhớ:

D-Tây: phát âm Đ
D-Việt: phát âm Y

Trừ một vài ngoại lệ, các từ Hán Việt bắt đầu bằng D-Việt đều có phát âm của Y trong tiếng quan thoại (theo pinyin) và tiếng Quảng Đông:
dậu= you / dịch giả= yì zhe / dã = thôn dã= cun ye / dâm ô= yin wu / dầu = yóu / dị=yì / dùng= yòng / DŨNG cảm= yong găn / dự báo: yu bao / dự bị: yu bei / dược sĩ: yào shi / dực= yì (cánh chim) / dừa= ye / diệp= yè / du đảng: yu dàng / du hành: you xing / du khách: you ke / dụng cụ: yong ju / diện tích: miàn ji / diệt chủng: miè zhong / diều: yào / dinh trại: yíng zhài / diệu vợi: tiáo yáo / dĩnh ngộ: ying wu.
Những thí dụ khác:
Do Thái: you tai / doanh nghiệp: ying ye / doanh thương: ying shang / Dung dich= rong yè / du lịch: yu lì / a dua: a yú / tình dục: qíng yù / du thủ du thực: you shou yóu shí / duyên phận: yuan fen / duyệt: yué / dư âm: yu yin / dư luận: yú lùn / Dì= yí / diễn viên= yăn yuán / ẩn dật= yin yì / dưỡng dục= yang yu / dương= yang / Dạ (đêm)= ye.
Ta thấy rõ: Chỉ trừ một hai ngoại lệ, có lẽ do chính biến chuyển của tiếng Tàu qua hàng ngàn năm, D được đưa ra thay thế cho Y. Các ngoại lệ đó là:
Diện (bề mặt): diện tích, diện mạo / tiếng quan thoại đọc Mian cho diện
Dân (dân chúng, nhân dân): quan thoại: Min. Giang Trạch Dân= Jiang Ze Min
Danh (danh tánh, danh tiếng): quan thoại Ming
Diệt (diệt chủng): quan thoại Mie.

Việc đem D ra thay cho Y thật ra là một việc làm hết sức táo bạo. Bởi nó không những đi ngược với đa số các ngôn ngữ Tây Phương mà lại không đồng thuận với rất nhiều ngôn ngữ láng giềng có nhiều ảnh hưởng qua lại với tiếng Việt, như tiếng Tàu, tiếng Nhật. Yang Gui Fei / Yamada / Fuji-yama / Yamamoto, v.v. Nó cũng lại khó nhận diện, ngay cả đối với người Pháp – những người Pháp cần dùng tiếng Việt trong công tác truyền giáo, hay ngay cả việc hành chánh tại Đông Dương. Bởi D-Tây và D-Việt đều viết bằng  D. Nhưng D-tây đọc Đ, và D-Việt đọc Y.

Ngay từ thời chữ quốc ngữ mới được phát triển, chữ D đã gây lộn xộn cho tên thành phố Đà-Lạt, một thành phố có khí hậu mát rượi, khung cảnh lãng mạn với những đồi thông vi vút. Nơi danh lam thắng cảnh vào bực nhất ở phía Nam. Tên "Đà Lạt" thật ngộ. Nó chẳng có nghĩa gì hết. Thoạt đầu chỗ đó có tên Ya Lạc (hay Lạt). Ya Lạc có nghĩa chỗ có dòng suối thuộc một bộ tộc họ Lạc. Thời còn dùng chữ Nôm, hoặc lúc chữ quốc ngữ còn phôi thai có lẽ chưa có phân biệt âm cuối: Lạt trong Ya Lạt có thể viết LạC hoặc Lạt. Bởi quốc ngữ không có Y, nên viết Ya-Lạt thành ra Da lạt. Mấy ông Tây thấy D-Việt lại tưởng lộn thành D-Tây nên đọc Da-Lạt thành Đa-Lạt rồi Đà-Lạt. Bây giờ có ai phát âm Đà Lạt với chính bộ tộc Lạc hay Lạt gì đó ở khu Lâm Viên, chắc họ cũng không hiểu Đà Lạt  chính là từ phiên âm dùng để chỉ nơi chôn nhau cắt rốn của họ.

Một người bạn (ĐP) cho biết sông Kwai ở Miến Điện cũng bị "hiểu lầm" tương tự. Còn nhớ phim On the River Kwai (cầu sông Kwai) do Alec Guinness và William Holden thủ vai chính, từng đoạt giải Oscar. Phim thuật chuyện một nhóm tù binh Anh-Mỹ đóng trại ở gần một con sông, dưới sự quản thúc của quân Nhật. Họ phải xây một cái cầu bắt qua dòng sông đó. "Sông" tiếng Nhật gọi Kawa. Chắc khi nghe mấy ông chỉ huy Nhật ra lệnh cho lính ra bờ sông múc nước hay làm gì đó. Mấy tù binh Anh nghe tiếng kawa (sông) không hiểu mô-tê gì hết nên hiểu lầm sông đó mang tên Kwai (!). Họ đặt tên sông đó, sông Kwai.

Thị Xã Đà Lạt chịu một số phận tương tự như sông Kwai.

D-Tây thay cho Y ngày nay còn gây ra nhiều khó xử với nhiều người gốc Việt – mang tên bắt đầu bằng D - sinh sống hoặc định cư tại những quốc gia nói tiếng Anh, tiếng Mỹ. Điểm trớ trêu, tên những người này thường rất đẹp, rất kêu. Bởi ở những quốc gia này, D-Việt bị phát âm thành D-Tây hết. Như Da-Lạt phát âm thành Đà Lạt. Danh đọc thành Đanh hay Đen. Di đọc Đi. Diên đọc ra Đien. Mỹ Dung ra Mai Đung. Anh Dũng thành Anh Đung. Dung hoặc Dũng được người Uùc, người Canadien, người Mẽo đọc thành Đung hết (đọc như "dung":  đâng). DUNG trong tiếng Mỹ mang một nghĩa rất hôi hám (=phân bò). Do đó khuynh hướng thông thường hiện nay của người Việt định cư tại các nước nói tiếng Anh tiếng Mỹ có các tên bắt đầu bằng chữ D-Việt là thay đổi ra Dz. Như Dũng thành Dzũng, Du ra Dzu, Dĩnh thành Dzĩnh, v.v.. Hoặc một đôi khi có vẻ dứt khoát hơn: dùng Y đại cho xong, gần gũi với quốc tế hơn – Yung thay cho Dung.

Như trên đã viết, chuyện đem D-tây vào trám chỗ cho Y trong công việc ký âm chữ quốc ngữ là một việc làm hết sức táo bạo bởi nó gây khó khăn cho chính người Pháp. Cũng giống như đem chữ S thay cho âm SH trong tiếng Việt. Bởi S trong tiếng Tây đọc như X. Sans famille đọc như xăng fa-mi-yơ. S trong tiếng tây đọc X. S trong tiếng Việt đọc như Sh của tiếng Anh: She / shells / shore / sáng sủa / sữa đậu nành.

D cũng y như S. Tiếng tây, tiếng Anh,  D đọc như Đ: diaspora, déja vu, Disneyland. Chứ không phải đọc Y. Điểm này đã khởi nguồn cho một giả thuyết bỏ túi nhằm giải thích tại sao những Thầy quốc ngữ đầu tiên phía Bắc đã lớ giọng khi gặp phải âm bắt đầu bằng D-Việt: Duyên dạn dĩ với Danh, khi Danh dạy quốc ngữ cho Duyên và Dung.
 
Hậu quả của việc lớ giọng này: các Thầy phát âm Danh, Duyên, Dung, dạn dĩ, như  Dzanh, Dzuyên, Dzung, dzạn dzĩ, v.v. và truyền lây cho các học trò. Nói một cách khác, cách đọc D bằng Dz chính là kết quả của việc phát âm lớ giọng của các Thầy quốc ngữ người Pháp thuở ban đầu tại phiá Bắc.

Thế nghĩa là thế nào?

Muốn hiểu rõ ta hãy thử đặt mình vào vị trí của những vị Thầy vào các thế hệ thứ hai thứ ba thứ tư, vừa dạy dân bản địa chữ quốc ngữ, vừa làm công tác truyền giáo. Nhiều khi trong những tình trạng rất khẩn trương do ở việc cấm đạo gay gắt ở các đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị. Từ Pháp đến xứ An-Nam những người Thầy đó phải học cấp tốc tiếng nói và chữ quốc ngữ của người bản xứ để có thể giảng đạo. Qua khảo sát những điểm khác biệt giữa chữ Nôm và chữ quốc ngữ, nhất là trong lối phát âm2, ta có thể thấy các thầy quốc ngữ Pháp ở phía Bắc đã thay đổi một số rất lớn cách phát âm, nhất là phân biệt hỏi ngã và các âm cuối. Thêm vào đó, những vị thầy Tây ở phía Bắc trong tình huống giảng đạo và dạy chữ quốc ngữ cấp tốc – trốn tránh càn quét truy lùng của quân lính triều đình – đã cho trôi qua một số khó khăn lớ giọng trong việc dạy quốc ngữ. Khó khăn thông thường nhất của những vị Thầy tây này và ngay cả những người Việt bản xứ đã học qua chữ cái alphabê và thông thạo tiếng Tây là gì? Đó là khó khăn nhận diện một chữ cái rất quen thuộc ở tiếng Tây nhưng bị cưỡng ép phát âm khác một trời một vực. Đó là chữ D, chữ cái đứng vào hàng thứ 4 sau A, B, C. Theo phản xạ thông thường khi các thầy Tây nhìn thấy D họ sẵn sàng phát âm như D-Tây, tức Đ. Thế nhưng theo sách vỡ chữ quốc ngữ, D phải được phát âm như Y. Dang dở không được đọc theo kiểu Tây, đang đở, mà phải đọc yang yở!

Rồi tại sao D lại biến thành Dz? Xin tiếp tục với giả thuyết bỏ túi. Ta tạm chấp nhận 2 điểm:

D-Việt nguyên thủy chính là âm Yờ
Các Thầy Tây khi chạm phải D-Việt sẽ lâm vào một thế mâu thuẫn: Đáng lẽ phải đọc ngay Đ theo với phản xạ và thói quen của tiếng mẹ đẻ / nhưng lại phải đọc ra Yờ cho đúng với âm quốc ngữ.

Tức khi các Thầy Tây gặp phải một từ tiếng Việt bắt đầu bằng D như Danh, họ sẽ có một khuynh hướng "bẩm sinh" phát âm nó như Đanh. Họ sẽ buột miệng phát âm Danh như Đanh trong chừng một tíc-tắc của thời gian, chừng 1 phần trăm hay 1 phần 1000 của một giây đồng hồ. Sau khoảng thời gian nhanh chóng đó, với trí hiểu biết của một bậc 'tôn sư',  họ sẽ nhận thức ngay rằng từ bắt đầu bằng D đó, Danh, phải được đọc Yanh. Lập tức các vị Thầy Tây sẽ biến chuyển phần phát âm còn lại trở thành Yanh. Tức họ sẽ phát âm D như Đờ-Yờ. Và Danh như Đờ-YỜ-Anh. Đờ chính là âm Đ của D-tây, và Yờ chính là âm gió hãm của Đ. Đờ-Yờ đọc nhanh chính là Dz.

Ta thử đọc nhanh Đờ-Yờ xem sao:
Đờ-Yờ => Đờ-Yyờ => Đ-Yyờ
Nhanh hơn nữa:
Đờ-Yờ => Đờ-Yyờ => Đ-Yyờ => Đ-Yy => Đ-Yz => Đz => Dz

Thử đọc Dương và Dung thật nhanh theo kiểu mấy vị Thầy gốc Pháp phải biến đổi từ Đ sang Y  khi gặp phải D -  trong tíc tắc của giây đồng hồ xem sao
DƯƠNG:
Đờ-Yờ-Ương => Đờ-Yyờ-Ương =>Đ-Yyờ-Ương=> Đ-Yy-ương=> Đ-Yz-ương=> Đz-ương=> Dzương
DUNG:
Đờ-Yờ-Ung => Đờ-Yyờ-Ung => Đ-Yyờ-Ung => Đ-Yy-ung => Đ-Yz-ung => Đz-ung => Dzung

Aâm Y đi theo D-Tây sẽ trở thành âm gió y hệt như Dz. D đứng trước z trong Dz chính nguyên thủy là D-Tây. Chính khi viết theo quốc ngữ  Dz đã khiến mọi người lầm tưởng D trong Dz là D-Việt. Thành ra không có, hoặc rất ít có, một giả thuyết nào để giải thích hiện tượng này. Hiện ïtượng D-ta đọc như Dz. Vấn đề sẽ thật rõ khi biết D trong Dz chính là D-tây. Nó len vào tiếng Việt bởi các vị Thầy Tây vẫn quen D như D-Tây!

Biến chuyển D ra Dz nghĩ cho kỹ vẫn là một thứ biến chuyển rất bình thường. Đó là loại biến chuyển 'hài thanh' trong tiếng Hán Việt. Gặp hai chữ giống nhau  người ta hay đọc giống nhau. Gặp D-Việt lầm ngay là D-tây. Nhưng trong đầu lại nảy lên một mâu thuẫn: Nó không phải D-tây mà chính là Y tức D-Việt. Mâu thuẫn đó đưa đến tổng hợp hai âm D-Tây (Đ) và Y (yờ). Giống như biện chứng pháp. Aâm đầu chính là Đ (D-tây) chứ không phải D-Việt. Aâm sau chính là âm Y. Nhưng nó đến sau nên gây ra âm gió, âm hãm gió. Hãm gió nên giống như Z. Tổng hợp sinh ra Dz:

Tiền đề= D-Tây  (đọc Đ như Docteur)
Phản đề= D-Ta hay D-Việt (đọc Yờ như  Danh Y)
Tổng đề= Dz  (đọc như  D-Tây+D-Ta:  Dzanh Y).

Thành ra, xin lập lại, các tôn sư quốc ngữ khi gặp D-Việt lại nhầm rằng D-tây. Nhưng chỉ trong một tíc-tắc của thời gian, cực kỳ ngắn. Họ phát âm trong khoảng thời gian cực ngắn đó như D-Tây (danh đọc như đanh – bởi quen thuộc dans đọc như đăng). Sau đó các thầy Tây này sẽ nhanh chóng nhận thức sai lầm của mình và uốn lưỡi lại sao đó để trả nó về âm Y. Từ đó sinh ra D-y và Dz.

Ta có thể kiểm chứng xem có một hiện tượng nào giống như Dz hay không. Trước hết ta thấy ngay Dz là một thứ âm Z rất nhẹ – Z bị hãm thanh ở khúc đầu. Giữa D-Tây, D-Việt và Z. Nó cũng hơi giống với lối phát âm Z trong pinyin của tiếng quan-thoại. Như trong Mao Ze Dong (Mao Trạch Đông). Ze có lối phát âm không hẵn như Ze của tiếng Anh. Nó cũng như một thứ Z nhẹ bị hãm thanh. Trước khi có hệ thống pinyin, tiếng Tàu có hệ thống Wade-Giles.

Theo lối Wade Giles Mao Ze Dong được viết như Mao Tse Tung. Thành ra Ze tương đương với Tse.
Z = Ts.  /   Dong = Tung

Trong phát âm pinyin D của quan thoại nằm giữa D-Tây và T.
Phát âm thử Đoàn và Toàn ta thấy ngay âm Đ (trong Đoàn) và T (Toàn) di động lưỡi gần giống vị trí như nhau. Chỉ khác nhau ở chỗ âm Đ đưa lưỡi ra phiá trước hơn, trong khi âm T cong lưỡi hơn một chút xíu.

Thành ra Dz Việt cũng có tương tự ở quan thoại qua Ts của Wade Giles.
Trong Ts: Một âm T bị hãm thanh bằng S sẽ đưa ra một âm gần giống như Z.
Trong D-y: Một âm Đ bị hãm thanh bằng Yờ sẽ cho một âm như Z thật nhẹ: Dz
Dz xuất phát từ D-Tây tổng hợp với Yờ do ở lớ giọng của chính các Thầy Tây là giả thuyết chính yếu để giải thích tại sao D-Việt được đọc ra như Dz.

Một giả thuyết khác dựa vào một số từ hãy còn lừng khừng giữa Dz và Gi đã được quan sát kỹ trong bài "Thử viếng lại âm chữ V và Dz trong tiếng Yiệt cổ". Đó là những từ như Giòng sông đôi khi viết Dòng sông. Dòn rụm thay vì Giòn rụm, v.v. Khảo sát những từ bắt đầu bằng Gi qua một quyển tự điển Việt-Quan-thoại ta sẽ thấy đại đa số các từ bắt đầu bằng GI trong tiếng Việt sẽ có tương đương pinyin của quan thoại là JI. Dứt khoát:

D-Việt = Y quan-thoại
GI Việt= JI quan thoại
Thí dụ:
Trường giang: chang jiang / giám hộ: jian hu / thế giới= shi jie / giao thiệp: jiao she / Giáo Hoàng= Jiao Huang / giảm giá: jian jia / giới tuyến: jie xian / Giang Trạch Dân: Jiang Ze Min, . . .

Do đó giả thuyết bỏ túi Dz xuất xứ từ Gi hoàn toàn bị bác bỏ.

Như vậy Dz chỉ xuất xứ từ  D-Tây+D-Việt (Yờ).  Dz= D-Tây+D-Ta

Trước khi kết thúc bài này xin thử quan sát một hiện tượng nữa. Hiện tượng V từ D-Việt.

Có một số từ Hán Việt đáng lẽ khi chuyển từ tiếng Tàu bằng Y sang tiếng Việt phải chuyển qua ngõ D như đã ghi ở trên, nhưng lại chuyển qua V.

Nhắc lại: D-Việt trong đa số các từ Hán Việt được chuyển từ Y, của pinyin quan thoại:
Do Thái: you tai / doanh nghiệp: ying ye / doanh thương: ying shang / Dung dich= rong yè / du lịch: yu lì / a dua: a yú / tình dục: qíng yù / du thủ du thực: you shou yóu shí / duyên phận: yuan fen / duyệt: yué / dư âm: yu yin / dư luận: yú lùn / Dì= yí / diễn viên= yăn yuán / ẩn dật= yin yì / dưỡng dục= yang yu / dương= yang / Dạ (đêm)= ye.
Thế nhưng có một số lại nhảy sang V:
Yue-Nan: Việt Nam (Đáng lẽ Yiệt Nam / hay Byiệt Nam)
Wang Yu: Vương Vũ (đáng lẽ Vương Yũ hay Vương Dũ)
Gong Yuan: Công viên (công yiên hay công diên)
Yan re: Viêm nhiệt (đáng lý: diêm nhiệt)
Yu zhou: Vũ trụ (đáng lẽ: Dũ trụ / yũ trụ)
Yuan zhu: viện trợ (đáng lẽ: yiện trợ / diện trợ)
Yong bie: Vĩnh biệt (đáng lẽ: yĩnh biệt / dĩnh biệt),. . . v. v. . . .

Ta sẽ giải thích ra làm sao? Xin thử quan sát một vài giả thuyết bỏ túi:

Giả thuyết 1: Aâm nguyên thủy của phân nửa các từ bắt đầu bằng V chính là By

Xin xem "Từ Vương Vũ đến Wương Thúy Kiều: Vài bí mật của chữ Nôm và quốc ngữ"2. Các kết luận quan trọng của bài đó – liên hệ đến chữ D - xin được tóm tắt như sau:
(a) Trước khi có chữ quốc ngữ, tiếng nước Nam hoàn toàn không có âm V, âm R, âm TR, v.v.
(b) V được đặt ra thay thế cho phân nửa các âm bắt đầu bằng W như: con woi, đi wề, lĩnh wực / và phân nửa kia thay cho các âm bắt đầu bằng B hay By: đi byào, bú byú, byốn liếng,. . .
(c) Lý do V phải thay cho W và B (hay By hoặc Y): tiếng Tây không có dùng âm W và By!

Thành ra khi các tác giả quốc ngữ tống âm Hán Việt Y (như  Yũ lộ, Wương Yũ, yũ trụ, yiện trợ) qua V dưới ý định phát âm B hay By theo kiểu các Thầy phía Nam, nhất là Nam Bộ, âm Y của Hán Việt vẫn chưa bị biến chuyển: Vũ lộ (đọc: byũ lộ), Vương Vũ (đọc: Vương Byũ), vũ trụ (byũ trụ), viện trợ (byện trợ), . . .

Và rất có thể khi xưa các âm này chính thật là By (theo kiểu người Mường, Nam Bộ) chứ không phải thuần Y để giao cho D. Byũ chứ không phải Yũ – cho Vũ-lông chim.

Giả thuyết 2: Những từ có âm Y bắt buộc phải đổi sang V (tức By) để tránh lộn xộn trong cảnh đồng âm dị nghĩa.

Byí dụ: Việt Nam đúng nhất phải đọc Yuệt Nam hay Byiệt Nam mới đúng với Hán Việt. Vương Vũ  Vũ có nghĩa "lông chim" chứ không phải vũ công hay khiêu vũ – phải đọc Vương Yũ mới trúng.
Lý do tất cả các thứ tiếng Á Châu trước đây đều gọi Việt Nam theo kiểu người Tàu gọi: Yue Nan. Nhật gọi BetoNamu, Mường gọi Yịt-nam, Quảng Đông gọi Yuệt Nam. Người Tàu cho đến ngày nay vẫn gọi tỉnh Quảng Đông là Việt (Yuế): Việt kịch (Yue ju) hay Việt Thái (Yue tsai) đều chỉ: kịch nghệ tỉnh Quảng / thức ăn Quảng Đông.
Nếu chuyển từ Yiệt Nam sang vùng chữ D  người ta dễ đọc sai thành . . . Diệt Nam: Một trở ngại kỹ thuật không ai có thể chấp nhận được. (Cũng giống như nước Thái-Lan khi xưa có tên Siam (Xiêm La) theo một vài giả thuyết có nghĩa nước chứa . . . tù binh!).
 

Tương tự, nếu Yũ trong yũ lộ, yũ: lông chim, yũ trụ viết thành Dũ: tiếng nước Nam sẽ trung thủy với ngày trước (thời tiền quốc ngữ) và tránh được sự trùng hợp với Vũ thật (chuyển từ Wũ) dùng để chỉ vũ công, khiêu vũ, vũ muá, . . . Nhưng lại va chạm với một từ thuần nôm Dũ mang nghĩa Phủi: dũ (hoặc rũ) sạch nợ trần. Dũ đó là một động từ. Yũ lông chim, yũ trụ  là một danh từ.

Giả thuyết 3: Cũng giống giống với giả thuyết 2 ở trên. Nhưng so sánh một số từ ngày trước bắt đầu bằng L bị chuyển sang âm mới:  âm R. Aâm R như  rờ răng răng rụng rờ rún rún ra  chỉ xuất hiện trong tiếng Việt sau khi có chữ quốc ngữ.

Chi tiết của hiện tương này: Một số âm Y của Hán Việt đáng lẽ chuyển hết sang D,  nhưng có một số chuyển sang V. Những âm bắt đầu bằng L như  lành lạnh, la, lối, lung, len, v.v. tất cả đáng lẽ chỉ cần giữ nguyên như trong tiếng Quảng Đông, nhưng một số bị chuyển sang âm mới . . . chữ R.

Một số Y chuyển sang V / Một số L đổi qua R.

Lật một quyển tự điển tiếng Quảng Đông (cantonese) ta sẽ thấy hoàn toàn không có mục chữ R.
Tiếng Nôm trước thời quốc ngữ cũng vậy: Không có âm R.

Lật một quyển tự điển chữ Nôm, ta sẽ thấy gần như tất cả những từ bắt đầu bằng R như RA, Rối Rắm, rung rinh, Trời, v.v. đều được đánh vần chữ Nôm theo cách kẹp với 1 âm bắt đầu bằng L.

Thí dụ:
RA= LA + XUẤT  (RA viết theo chữ Nôm bằng cách viết từ La (chữ Nho) kẹp với Xuất (chữ Nho))
Rả (mưa rả rích)= mượn âm Lữ  (cũng L)
Rẻ (giá rẻ)= LỄ + Tiện
Rũ (rũ sạch bụi trần)= Lũ + bộ Nạch
Rung (rung cây, rung động)= mượn Lung
Rối (bối rối)= bộ Mịch + Lỗi

Giải thuyết ở đây: Chính bởi âm L đã đầy dẫy nhưng từ đồng âm sẵn có nên các tác giả quốc ngữ bày ra âm R để di tản bớt âm L hầu tránh cảnh đồng âm dị nghĩa lộn xộn của chữ Nôm.
Thí dụ:
Ra ngày xưa đọc La. Đi la đi byào. La có thể lộn xộn với La lối, la cà, cái la bàn, . . .
Rối ngày trước đọc Lối. Lối la lối lắm. Lối có thể lẫn lộn với lối byào, lối đi, phách lối, đường xưa lối cũ
Rung thời trước đọc Lung. Lung linh (rung rinh). 'Lung linh' dễ lộn với lung lạc, nhập đề lung khởi,...

Tương tự, Y chuyển sang V thay vì D như thường lệ, dùng để giải toả một số lộn xộn như L qua R:

Công yiên => công viên thay vì công diên chắc để tránh diên như trong Diên Hồng
Yiện trợ => viện trợ thay cho diện trợ, để tránh diện trong diện mạo, diện tích, bình diện
Yiêm nhiệt => Viêm nhiệt thay cho diêm nhiệt để bớt lộn xộn với diêm trong diêm dúa, Diêm vương,
que diêm, diêm điền (ruộng muối), . . .
Yiễn ảnh => viễn ảnh thay vì diễn ảnh, để tránh diễn xuất, diễn viên, . . .
Yu quy => vu quy thay du quy, để tránh du lịch, du hí, . . .

Giả thuyết 4: Tổng hợp 3 giả thuyết kể trên.
 
THAY LỜI KẾT:
Phần chính yếu của bài này đã được 'xuất bản' cách đây một vài năm. Đó là phần nguyên ủy của âm Dz. Thế nhưng, khi viết bài này  một khám phá mới chợt nảy ra, khiến cho việc giải thích giải thuyết hiện tượng Dz trở nên đơn giản và rõ ràng hơn. Phát âm Dz theo với các Thầy quốc ngữ xa xưa của những từ bắt đầu bằng D như Dương Qua, duyên dáng, Dũng Đakao, Hoàng Dung, . . . chính thật là một tổng đề của một biện chứng pháp bỏ túi:
Tiền đề: D nguyên thủy là D-Tây: Docteur
Phản đề: D-Việt quốc ngữ có âm Yờ: Danh Y
Tổng đề: Dz tổng hợp được Tiền đề và phản đề: Dzanh Y
Dz= D-Tây+D-Ta

Đôi khi Dz có thể sinh ra một chuỗi biện chứng mới: theo dõi=> theo rõi / dũ sạch=> rũ sạch.  Nhưng tốt hơn hết, nên chấm dzứt ở đây.

Easter Monday 2003
Nguyên Nguyên