Tôi ở Nhatrang chạy vào Sàigòn được một tháng, tình hình bên ngoài có vẽ yên lặng, nhưng bên trong rất căng thẳng, người thì tính chuyện ra đi, kẻ thì nhất quyết ở lại, may mắn hay rủi-ro, đúng hay sai, tất cả đều tùy thuộc ở cái nhìn của mỗi người về cọng sản, về thời cuộc lúc đó, cũng như tùy hoàn cảnh và phương tiện của mỗi người.
Trường hợp của tôi, sau mấy năm tháng yên lành ở Nhatrang, rạng ngày 2-4-1975, tôi đã vượt biển vô Sàigòn, sống trong hồi-hộp lo âu vì tự nghĩ rằng dù sao cũng đã dính líu với chế độ cũ khá nhiều, trên 20 năm, nếu chiến tranh xảy ra chắc phải là khốc liệt và trong hoàn cảnh tranh sáng tranh tối ấy, tránh sao cho khỏi tên bay đạn lạc. ...Nghĩ xa hơn chút nữa, chiến tranh nay xảy ra giữa hai miền Bắc Nam, mà miền Nam nước Việt tuy binh hùng tướng mạnh, nhưng phải cái tội là ly gián quá nhiều. Ở trong nội bộ thì tôn giáo chống nhau, các thành phần khác thì mạnh ai nấy chống, chỉ còn đa số công chức, binh lính, cán bộ v.v... là theo chính phủ. Người Mỹ tự hào bảo vệ Việt Nam đến gần 10 năm không có kết quả, cũng phải tìm đường thối lui. Hơn nữa chính phủ bên kia là chính phủ cọng sản, một khi họ thắng họ sẽ trả thù với bất cứ giá nào. Nghĩ như vậy nên tôi thà chịu khó ra đi với hi vọng kiếm được một nơi sống yên lành hơn ở Việt Nam hiện tại....
Thật ra trong thời gian đó, cơ quan USAID có lập chương trình cho những ai muốn ra đi, nhưng chờ mãi không thấy tin tức gì, trong lúc bên cơ quan quân sự Mỹ người ta ra đi dễ-dàng. Đến cuối tháng 4, tình hình ngày càng đen tối, biến cố chính trị dồn dập xảy ra, trong lúc ngoài chiến trường, quân đội rút lui, hết mất tỉnh này đến mất tỉnh nọ thì ở Sàigòn đa số dân chúng rất là xôn xao giữa muôn lời đồn đãi. Ai cũng muốn sự việc xảy ra theo ý mình, người muốn ở lại thì dựa vào Hiệp Định Paris, người muốn đi thì viện cớ này cớ khác để ra đi... ai cũng có lý do cả.
Sáng thứ hai 28-4-75, tôi
vào Tổng Cuộc Kiều-Lộ chào cờ như thường lệ, nhưng
tâm trí bất định, chả còn tha thiết gì với
công việc, nên tôi lái xe chạy vòng
vòng, chợt thấy trụ sở DMJM ở đường Công-Lý.
Tôi dừng xe lại và khi bước vô văn phòng,
tôi may mắn gặp ngay ông VanZyl, trước kia làm
Trưởng Xưởng Đúc Đà Tiền Áp ở chân
núi Rù-Rì, Nhatrang. Sau khi trò chuyện
thăm viếng xã giao, tôi tỏ ý muốn di tản (gồm
có một vợ và bảy con) được ông ấy nhận lời
giúp đỡ làm giấy tờ cho tôi và gia
đình di tản bằng máy bay như các nhân
viên của hảng.
Đến 11 giờ trưa, điện thoại của tướng Mỹ
cho hay tới chiều sẽ có phi cơ dành cho hảng DMJM di tản
nhân viên. Tin này loan ra, các nhân
viên đều chần chừ, một hồi sau chỉ có ba (3) nhân
viên chịu đi, còn lại thì xin đi vào
các chuyến sau vì chưa sẵn sàng, nhờ vậy mà
gia đình tôi mới được đi dễ dàng.
Đến 4 giờ chiều ông VanZyl cho chúng tôi lên hai (2) xe van đưa vào Tân Sơn Nhất, may không gặp gì khó khăn. Tuy nhiên khi vào cửa sân DAO (cơ quan quân sự Mỹ) tôi vẫn ngồi trên xe vì ngại lính xét giấy tờ bất thần làm khó dễ, vặn Radio nghe tin ông Trần văn Hương đang bàn giao chức vụ Tổng Thống cho Đại Tướng Dương-Văn-Minh, rồi thình lình nghe tiếng máy bay bắn hàng loạt đạn phía dinh Độc-Lập, lúc đó vào khoảng 6 giờ chiều, thiên hạ chạy tán loạn. Trời bỗng kéo mây đen u ám, báo hiệu một triệu chứng bất tường... chỉ một lát sau thì có một Đại-Tá đến cho hay cổng Tân Sơn Nhất bỏ ngỏ, ai muốn về thì về, trong lúc lính Mỹ bọc cả sân bay DAO trong tư thế chiến đấu. Tôi quyết định ở lại chờ máy bay, trong lúc có cả hàng chục gia đình lục tục ra về. Mãi đến 2 giờ sáng ngày 29-4-75 mới được gọi lên xe bus đưa ra phi đạo trong tối tăm ghê rợn vì điện đường, xe cộ đều tắt đèn hết. Lên trên tàu bay người ta ngồi chen chúc giửa sàn phi cơ C123, đuôi há miệng để lính bắn đạn tầm nhiệt chống hỏa tiển.
Lúc tàu bay đến phi trường
Clark (Phi Luật Tân) đoàn người di tản được mời vào
phi-cảng để Hội Hồng-Thập-Tự săn sóc chu đáo. Đến 4 giờ
chiều mới đợi máy bay C141 đi đảo Wake là một hoang đảo
đã bỏ không từ 3 năm nay vi bị ô nhiểm do hậu quả
của các vụ thử bom nguyên tử. Tới đảo Wake, sở Quan-thuế
mới khám xét kỹ càng vì đây là
trạm đầu tiên bước vào đất Mỹ.... Tuy nhiên sau
đó thì họ cấp phát đầy đủ vật dụng để ăn ngủ....
Trong ngày đầu ở đảo, tôi
đến gợi chuyện với đám lính đồng minh Mỹ đang sửa đường
sá và được biết họ mới qua đây độ một tuần lễ, sửa
tạm mấy căn nhà bị dột, và chở nước uống tiếp tế
cho dân tị nan.... Tôi theo xe họ đến văn
phòng ở phía cuối đão để mua một ít nước
uống Coca Cola, chợt nhận thấy ở phía góc tường có
một máy điện thoại, tôi tò mò nhắc ống nghe
lên hỏi có gọi California được không? operator trả
lời OK. Thế là tôi lấy sổ tay ra đọc liền số điện thoại
của con trai tôi mới học năm thứ hai ở Sacramento. May mắn thay ở
đầu dây bên kia, con tôi trả lời nghe rõ từng
tiếng một. Cha con tôi mừng rỡ khôn xiết. Đến chiều về nghe
tin ông Dương-Văn-Minh đã đầu hàng ngày
30-4-1975, lòng tôi không khỏi chưng hửng, mất hết
cả hi vọng....
Đến tối ngày thứ 3, gia đình tôi được gọi lên
phi trường cho đi Mỹ. Thường từ đảo Wake qua San Francisco chừng 4
tiếng đồng hồ, thế mà nay bay đã hơn 7 tiếng chưa thấy
đến. Khi máy bay hạ cánh, nhìn ra phía
ngoài toàn là rừng núi, hỏi ra mới biết
đây là Fort Chaffee thuộc tiểu bang Arkansas, miền Nam
Trung Mỹ. Dân di tản được đưa đến một trại lính, trước
thường dùng để huấn luyện địa phương quân, nay tạm xữ dụng
làm nơi cư trú cho dân Việt-Nam di tản. Trong trại
này có đầy đủ nhà cửa, nhà ăn công
cọng, trạm bưu điện, phòng điện thoại, tiệm bán
hàng PX, sân quần vợt, sân dã cầu....
Một ban điều hành phần đông
là cựu nhân viên USAID ở Viet-Nam, phụ trách
việc làm giấy tờ căn cước, khám sức khỏe, an ninh.
Ngoài ra còn các cơ quan thiện nguyện kiếm
tìm người đở đầu (sponsor) nhận đem dân di tản ra khắp
các tiểu bang. Có người chỉ ở trong trại vài ba
ngày, có người ở đến vài ba tháng để
làm thủ tục bạch hóa an ninh (security clearance).
Riêng tôi chỉ mất độ một tháng thì ra trại
vì ở Sacramento con trai tôi có liên lạc với
giáo sư Tiến sĩ Wayne Burton can thiệp với ông William J.
Schemandle, Chủ-Tịch Hội Kỹ sư chuyên nghiệp về tình trạng
của tôi.
Ông William đã viết một
lá thư kèm theo biên bản của hội California Society
of Professional Engineers ngõ lời chào mừng các
đồng nghiệp Kỹ sư Việt-Nam, trong đó có đoạn:
Thông cáo ngày
24-5-1975.
"Hội kỹ sư chuyên nghiệp (CSPE) hôm nay thông
báo rằng Hội sẽ hành động tích cực để giúp
các kỹ sư tị nạn tại tiểu bang California. Việc yểm trợ
đã được chấp thuận trong buổi họp thường niên của Hội
vào cuối tuần qua tại Las Vegas, Nevada, Hoa kỳ.
Ong William J. Schemandle, Chi Hội Trưởng xác nhận rằng tổ chức
này đã chấp thuận một nghị quyết giúp đở
các kỹ sư tị nạn hội nhập vào xã hội Hoa-Kỳ
càng nhanh càng tốt... Ông nói đã
liên lạc với các chức quyền Liên Bang và Tiểu
bang để ước định số kỹ sư tị nạn cũng như để biệt phái
làm gì trong vấn đề yểm trợ. Ông còn
nói rằng Hội Kỹ sư Chuyên Nghiệp sẽ liên lạc với Hội
Quốc Gia Kỹ sư Chuyên Nghiệp để biết xem Trung ương cũng như
các Hội ở Tiểu Bang khác có giúp được
gì trong việc định cư các kỹ sư tị nạn.
Ông Robert J Kuntz, Hội trưởng Điều hành của Kỹ sư
Chuyên nghiệp California nói rằng Hội hi vong sẽ mở đường
cho các Hội Kỹ Thuật khác giúp đở người Việt Nam
tị nạn tại Hoa Kỳ. Ông nói Hội nhận thấy rằng tình
trạng công ăn việc làm của kỹ sư hiện nay không tốt
đẹp lắm nhưng vì quyền lợi chung của đất nước hiện nay,
chúng ta phải xác nhận sự khó khăn của người tị
nạn và đưa tay giúp đở những kỹ sư đã bỏ
nhà cửa ở miền Nam Việt Nam qua đây tị nạn chính
trị. Ông Kuntz còn nói rằng kỹ sư tị nạn sẽ
đóng góp tích cực vào sự tiến bộ của quốc
gia. "
Với cái thư này, tôi bắt đầu thấy chút
ánh sáng ở cuối đường hầm...
Sau khi hoàn tất thủ-tục an sinh
xã-hội với cơ quan thiện nguyện IRC (Immigration Resettlement
Committee) và đến khi đoàn tụ với con trai của tôi
ở Sacramento, việc đầu tiên là đi tìm chỗ cư ngụ
cho gia đình. Điều may mắn là con tôi có
quen với bà Joliot, có 2 con trai dưới 18 tuổi, ở một
mình tại một căn nhà 4 phòng ngủ, bà sẵn
sàng ở 2 phòng, còn 2 phòng thì
dành cho gia đình tôi ở tạm.
Ban ngày bà đi làm ở Ngân Hàng
Sacramento, hai con đi học, tối đến gia đình tôi chen nhau
ở phòng khách và 2 phòng ngũ trong nửa
tháng mới dọn đi chỗ khác. Xong đâu đấy, tôi
đến gặp Hội Kỹ sư Chuyên Nghiệp California theo lời mời trong
thư, nhưng qua buổi họp mặt ăn trưa lần đầu tai Hotel Sutter sang
trọng, tôi cảm thấy không xong vi Hội cho biết ông
Thống đốc Jerry Brown không mấy thiện cảm với phong trào
tị nạn, hơn nữa ông ấy đang có dự định sa thải 3000
nhân viên Kiều-Lộ.
Sau thời gian ở Sacramento, tôi chuyển về định cư ở Oakland theo con trai đầu của tôi vừa được nhận vào học năm thứ ba Đại hoc Berkeley, tai một căn nhà 3 phòng bên cạnh hồ Merritt, góc đường Bellevue và đường Grand.
Tiếp đến là vấn đề tim việc. Trong
số đồng bào di tản ở vùng San Francisco - Bay Area năm
1975 thì những người trước kia đã từng làm với
Bank of America ở Saigon là được tiếp tục thâu nhận
vào làm ngay hoặc những kỹ sư đã từng làm
với Nha Căn-Cứ Hàng Không thì được hảng Bechtel
tuyển vô làm vì gặp đúng lúc
hãng này mới trúng thầu lập dự án xây
cất phi trường Riyath ở Ai Cập; còn ngoài ra phần
đông đều thất nghiệp vì vấn đề tìm việc tùy
thuộc không những vào khả năng, ý chí của
mỗi cá nhân mà còn tùy thuộc
vào tình trạng công ăn việc làm của mỗi địa
phương.
Đối với các bạn đã tốt nghiệp hay đã tu nghiệp ở
Hoa Kỳ trước đây, vấn đề tìm việc tương đối dễ dàng
vì dù sao cũng vượt qua được hai trở ngại về Anh ngữ
và chuyên môn. Duy chỉ các bạn chưa
dính chút gì về kinh nghiệm ở Hoa Kỳ thì
thật là nan giải, nhất là năm 1975 gặp lúc Hoa Kỳ
bị khũng hoảng kinh tế (riêng cơ quan Kiều-Lộ California sa thải
khoảng 3000 nhân viên trong đó gồm 600 kỹ sư
các ngành) nên dân di tản thật khó
mà tìm được việc như ý. Do đó ngoài
quý vị cao niên thủ phận ở nhà vui thú...với
quá khứ vang bóng một thời, hoặc một vài bạn
đã đổi qua nghề khác, còn lại đa số các bạn
xồn xồn, lỡ ông lỡ thằng đã gặp khá nhiều
trôi nổi. Tất cả đều bở ngở trước mọi vấn đề từ việc làm
résumé đến interview, thi cử... Một số anh em cho rằng
còn nước còn tát nghĩa là trong lúc
được trợ cấp thì cứ học lại bằng mọi cách, người
thì ghi danh học lấy Master Degree, Ph.D., kẻ thì tự học
thi EIT hoặc PE, nhất là học thêm Anh ngữ đối thoại ở
các College.
Sau khi dính chút sở học ở Hoa-Kỳ, anh em thường
tìm việc qua nhiều ngả hoặc do sponsor và các cố
vấn cũ giới thiệu, hoặc qua các cơ quan báo chí,
hoặc qua các cơ quan tìm việc địa phương công
và tư. Ban đầu, tôi cũng như đa số các bạn di tản
khác cứ tưởng làm tờ resume ghi lại trung thực sở học
và kinh nghiệm ở Việt-Nam rồi in hàng chục bản, gặp
đâu gởi đó, nhưng sau một thời gian không được trả
lời hoặc bị từ chối khéo bằng mỹ từ over qualify, khi đó
mới thấy bị hố vì các hãng tư cũng như cơ quan
chính quyền chỉ tuyển người theo nhu cầu của họ mà
thôi, thành thử tôi phải viết lại resume méo
mó theo từng trường hợp cho thích nghi.
Sau khi họp với ông William J.
Schimandle không có kết quả, tôi liền tìm gặp
các cố vấn cũ như cựu Đại tá Ray S. Samuelson lúc
đó đã về hưu và đang làm Principal Engineer
cho hảng IECO ở San Francisco. Tại đây tôi được giới thiệu
cho ông Christensen, Phó Tổng Giám Đốc Công
Ty và được phỏng vấn rất lịch sự qua một buổi cơm trưa và
sau cùng đề nghị cho tôi một việc làm ở IRAN trong
công tác làm đường chung với một công ty
Pháp (Joint Venture). Tôi do dự chưa dám nhận lời
vì gánh nặng gia đình ràng buộc, mới qua Mỹ
chưa đầy 3 tháng không lẽ di tản nửa nên tôi
từ chối. Ong Samuelson giới thiệu tôi qua hãng Bechtel.
Sau khi hạch hỏi đủ điều, ông Project manager cho tôi hay
hãng chỉ cần những người có kinh nghiệm về Căn Cứ
Hàng Không mà thôi.
Tôi gởi đơn đi cùng khắp
vùng nhưng đến đâu họ cũng bảo ngành
Công-Chánh/Kiều-Lộ ở đây lúc này
công việc có hơi chậm lại nên không có
tuyển dụng thêm kỹ sư. Tôi mới xoay qua đi học thêm
môn concrete structures ở UC Berkeley Extension. Trong khi đi
học, tôi gởi đơn đến ông Richard E. Gee, một tư chức
lâu năm ở Bechtel nhờ can thiệp. Kỳ này Bechtel nhận
tôi vô làm với tư cách Civil Structural
Engineer tại Bechtel Power Corporation. Tôi vừa làm vừa
học, vừa học vừa làm, được hai năm thì hảng bớt việc, đổi
tôi qua office khác ở Ann Harbor, Michigan. Tôi từ
chối vì muốn ở lại vùng San Francisco cho con cái
tiếp tục việc học hành, khí hậu điều hòa, gần bạn
bè Việt-Nam cho vui.
Sau đó, tôi thi đậu mấy chỗ
nhưng chả có chỗ nào kêu tôi. Thế nhưng
tôi vẫn không nản chí, nghĩ rằng còn nước
còn tát, bao giờ không kiếm được việc tương xứng sẽ
kiếm việc thấp hơn, thế nào cũng phải có. Quyết tâm
như vậy cho nên dù tóc đã hoa râm
tôi bắt đầu học thêm các môn mới như động đất
(seismic), kinh tế kỹ thuật (engineering economic) để chuẩn bị lấy
chứng chỉ hành nghề.
Bất ngờ ngày 21-12-78 có điện thoại từ sở Caltrans ở Sacramento gọi đến hỏi có còn muốn phỏng vấn vào làm việc với Caltrans không? Tôi đồng ý ngay, cũng may hôm đó thứ bảy mà tôi lại ở nhà chứ đi chơi thì hỏng mất một dịp may! Thế là vài ngày sau tôi nhận giấy đi phỏng vấn và đậu vô làm Kỹ sư cho Tiểu Bang California, Tổng Nha Vận Tải, ở San Francisco, Khu 4, bắt đầu một cuộc đời công chức mới, với tinh thần thoải mái, có thì giờ lo cho con cái học hành, gia đình an cư lạc nghiệp và xây dựng cộng đồng./.
TRẦN-SĨ-HUÂN