Ngày 24-9-1975,
gia đình tôi gồm 5 người, hai vợ chồng, hai con, một
cháu từ hai tuổi rưỡi đến 5 tuổi, cùng mấy gia
đình Việt di tản xuất trại tạm cư Camp Pendleton, ra định cư tại
Norwalk, California. Sau bốn ngày lỉnh kỉnh với việc an cư,
ngày thứ năm, với một mớ kiến thức rất giới hạn về đời sống Mỹ,
tôi ra khỏi nhà, thực ra là ra khỏi căn apartment
một phòng ngủ, xăn tay áo đi tìm việc.
Hồi còn trong Fort Chaffee, trong Camp Pendleton, có mấy
người Mỹ tình nguyện vào trại nói chuyện về đời
sống Mỹ, như đi xe bus, mở truơng mục ngân hàng,
làm resumé, cách tìm xem nơi nào
có việc, như EDD, phòng tìm việc công của
county, tại văn phòng tìm việc tư, rao vặt trên
báo... Trang bị với mớ kiến thức đó, tôi thủ
thêm mớ bản đồ thành phố Los Angeles và Orange, bản
đồ đường xe bus và một số địa chỉ văn phòng xé từ
cuốn điện thoại niên giám... sẵn sàng dấn
thân. Tôi đến văn phòng tìm việc EDD
không xa nhà lắm, chỉ khoảng 2 cây số cuốc bộ. Nơi
đây có yết thị các công việc do hãng
xưởng hay văn phòng cầân người, gửi cho county; county
niêm yết việc đó lên cả mấy chục văn phòng
EDD trong county, liệt kê các đòi hỏi của chủ
nhân, việc làm tạm thời hay thường trực, số lương...
và cho một con số thứ tự, thí dụ job #96. Nếu bạn thấy
thích hợp với công việc này, điền tên, địa
chỉ, số điện thoại và job # vào một cái phiếu, bỏ
vào cái rổ, 5, 10 phút sau sẽ có một
ông hay bà công chức gọi tên bạn, mời
vào văn phòng, phỏng vấn bạn sơ sơ rồi điện thoại tới
hãng xưởng đó và dàn xếp để bạn đến
đó phỏng vấn. Cách này, hãng xưởng thường
trả lương rẻ hơn so với việc thuê người qua văn phòng tư,
cũng rẻ hơn thuê người bằng cách bảo nhân viên
trong hãng tìm bạn bè có khả năng giới
thiệu đến làm cho hãng.
Tôi ghé văn phòng EDD này mỗi tuần
vài ba lần. Mấy ngày còn lại tôi đến tận
hãng nào mà tôi "nghi" là họ sẽ cần
một công nhân có kinh nghiệm như tôi: kết quả
chỉ là cô thư ký nhận đơn, nói là "sẽ
chuyển cho ông kỹ sư trưởng", nhiều khi họ nói không
cần người và trả lại resumé ngay tại trận. Hoặc tôi
ngồi nhà gửi thư xin việc kèm resumé tới
các hãng ở xa, nhưng cả 50 thư gửi đi, tôi chỉ nhận
được duy nhất một bưu thiếp in sẵn câu trả lời, đại khái
là "hãng đã nhận được thư xin việc của ông,
sẽ lưu lại hồ sơ và tiếp xúc với ông khi nào
hãng có nhu cầu" (chính hãng Santa Fe
này, 9 tháng sau kêu tôi lại phỏng vấn, cho
việc và tôi làm việc cho hãng gần 11 năm,
1976-1986 và đây là hãng trả lương bổng tốt
nhất, xếp tử tế và hào phóng nhất trong suốt sự
nghiệp làm công của tôi, tiếc rằng năm 1986
hãng bị bán qua bán lại mấy lần cho đến khi
rách bươm như cái mền, nhưng đó lại là
câu chuyện khác).
Khoảng 6 tuần sau khi định cư, tôi tìm được một việc
trên bảng yết thị của văn phòng EDD mà tôi
nghĩ là tôi làm được: họ cần một họa viên kỹ
nghệ, mechanical drafter, trả 950$ một tháng, một số lương
khá thơm thời bấy giờ (một chung cư hai phòng ngủ ở
Norwalk thời bấy giờ là 160 $, bây giờ khoảng 1000 $).
Tôi điền tên vào phiếu, bỏ vào cái rổ
rồi phập phồng ngồi đợi. Năm phút sau, một anh công chức
da màu tên John gọi tên tôi, mời vào
văn phòng của anh, phỏng vấn qua loa rồi quay điện thoại cho
hãng đang cần người.
Nói qua nói lại với bên kia vài câu,
John hỏi tôi:
- Họ muốn biết anh có kinh nghiệm về vẽ máy bay hay hoả
tiễn không ?
Tôi thất vọng trả lời:
- Không, tôi chỉ vẽ cơ phận máy móc
thôi!
John trả lời phía bên kia như vậy. Bên kia
nói gì đó, John hỏi lại tôi:
- Họ muốn biết anh đã có bao giờ làm cho McDonald
Douglas, Boeing, Hughes, Northrop hay Rockwell chưa ?
Tôi trả lời:
- Không, tôi chưa hề bao giờ làm cho các
hãng trên.
John lại trả lời phía bên kia như vậy. Họ bảo John:
- Gửi anh ta lại đây!
Sau này tôi mới hiểu: chiến tranh Việt Nam vừa chấm dứt,
theo báo Los Angeles Times, các hãng chế
máy bay, hỏa tiễn sa thải 45 nghìn công nhân
một lượt. Hãng Given này muốn tìm hoạ viên
vẽ cơ phận máy tiện, họ không muốn thuê người
có kinh nghiệm về máy bay và hỏa tiễn!
John nhún vai, không biết anh ngạc nhiên hay thất
vọng, anh lấy tờ giấy ghi tên và địa chỉ hãng Given
International, tên ông trưởng phòng nhân
viên và chỉ đường cho tôi:
- Anh đi thẳng Pioneer Blvd, tới freeway 91, đi 91 Oét.
Ếch-zít đại lộ Santa Fe, ngoẹo trái, đi thêm khoảng
nửa mai, hãng ở bên tay phải. Nhớ đến trước hai giờ chiều.
Gút lắc! ... Mà anh có xe không ?
Khi tôi nói tôi không có xe, tôi
sẽ đi bằng xe bus thì tôi có thể đọc được sự thất
vọng cùng cực trên mặt anh chàng John. Anh ta lấy
tay bưng mặt, suy nghĩ một chút rồi mở cuốn điện thoại
niên giám, ghi một số điện thoại lên đó, đưa
cho tôi:
- Anh không thể nào đến đó bằng xe bus được
đâu. Nếu anh không lại được, hoặc lại trễ, điện thoại cho
ông trưởng phòng nhân viên, cho ổng biết. Nếu
anh gặp rắc rối hoặc nguy hiểm, kêu số này, đây
là số điện thoại sở cảnh sát thành phố Compton!
Thời đó tôi mới chân ướt chân ráo đến
vùng này, đâu có biết đến oai danh của
thành phố Compton nên coi cái tên Compton như
pha. Tôi cảm ơn anh John rồi bước ra, nhưng cũng còn kịp
thấy cái nhìn nửa thương hại, nửa thất vọng của anh. Anh
chúc tôi một lần nữa "Gút lắc" rồi lắc đầu!
Rồi tôi cũng đến được hãng Given bằng xe bus, đúng
boong hai giờ chiều. Sau khi nói chuyện qua loa với ông
trưởng phòng nhân viên, ông dẫn tôi
lên lầu trao cho ông kỹ sư trưởng tên Frank.
Ông này sau khi đọc resumé của tôi,
buông xuống bàn, ngửa người ra lưng ghế, nhìn
tôi cười cười:
- Kinh nghiệm của anh về ngành này ngắn quá, anh
lại chuyên ngành về xây cất kỹ nghệ nặng. Tệ hơn
nữa, anh lại không có chút kinh nghiệm địa phương
nào cả! Anh nghĩ sao ?
- Tôi học 4 năm về kỹ nghệ cơ khí, có 4 năm kinh
nghiệm, tuy thời gian ngắn, nhưng tôi làm nhiều thứ, nhiều
loại. Xây cất kỹ nghệ nặng chỉ là công việc tạm thời
của tôi, nếu có dịp làm về kỹ nghệ cơ khí,
tôi trở lại ngay (điều này tôi phịa! ). Nếu
ông cho tôi bất cứ một cơ phận rời nào đó
trong xưởng với một dụng cụ đo lường thật chính xác,
tôi sẽ biến nó thành họa đồ trong không bao
lâu!
- Tôi khen cho lòng tự tin của anh, nhưng làm vậy
tốn thì giờ quá, để tôi cho anh làm thử
cái gì giản dị hơn!
Ông dẫn tôi sang phòng họa đồ, gặp ông trưởng
phòng tên Barn, đã già, xầm xèo
gì đó; ông Barn lôi ra hai tờ họa đồ nhỏ sửa
xanh sửa đỏ, bảo tôi theo đó sửa chữa lên bản
chính. Việc đó tôi làm xong trong
vòng 15 phút, in rồi đưa cho ông trưởng
phòng, ông này đưa cho ông kỹ sư trưởng.
Ông Frank bảo tôi:
- Cái này giản dị quá! Anh có thể trở lại
đây 9 giờ sáng mai không ? Tôi sẽ nghĩ ra
cái gì khó hơn để thử anh.
Sáng hôm sau tôi trình diện lúc 9 giờ.
Ông trưởng phòng cho tôi tờ hoạ đồ to, cũng sửa xanh
sửa đỏ, nhưng phải vẽ thêm vào hai ba hình vẽ nữa
và dặn tôi cố gắng hoàn tất trước 5 giờ chiều.
Nhưng tôi làm xong khoảng 11 giờ trưa, in một bản, đưa cho
ông trưởng phòng, lễ phép chỉ cho ông thấy
có hai nơi sai, mà tôi chỉ giám nói
với ông là tôi nghĩ có điều gì
không ổn. Ông lật đật lật hồ sơ cũ ra kiểm lại, rồi bảo
là tôi đúng. Tôi sửa lại theo ông, in
bản khác trao lại cho ông, ông đưa ông kỹ sư
trưởng xem, xầm xèo một chút. Ông kỹ sư trưởng gọi
tôi vào văn phòng ổng, đóng cửa lại rồi
nghiêm sắc mặt:
- Anh khá hơn tôi nghĩ, tuy nhiên, 50% tôi
muốn mướn anh, 50% không. Để tôi suy nghĩ lại rồi sẽ điện
thoại cho anh sau!
Tôi cảm ơn ông đã cho tôi một cơ hội, rồi thơ
thới hân hoan (!) ra về. Đây là lần đầu tiên
tôi được phỏng vấn xin việc trên đất Mỹ, nhưng tôi
thừa biết rằng câu nói trên của ông có
nghĩa là "Về đi, tôi không muốn mướn anh"!
An phận, hơi buồn nhưng lòng không một chút cay
đắng, tôi thả bộ dọc đường Santa Fe, qua dưới freeway 91, lững
thững đi cho đến khi gặp đại lộ Compton, tôi chờ xe bus về
Norwalk, còn tạt qua tiệm sách cũ xem một hồi rồi mới về
nhà. Vừa bước vào nhà, nhà tôi
nói:
- Ông Frank ở Given kêu lại hỏi anh đâu, em
nói anh đi anh-teẹc-viu ở Compton, ổng nói anh về
lúc 11 giờ rồi, em nói chắc anh còn đang đi xe
bus. Ổng hỏi thế anh không có xe à ? Em nói
không. Ổng nói ổng quyết định mướn anh, bảo anh
sáng mai, thứ tư đi làm!
Tôi thật ngạc nhiên, vội vàng cuốc bộ xuống đao-tao
Norwalk mua mớ dụng cụ vẽ họa đồ (hôm ấy là chiều thứ ba,
may mà thời ấy ở đao tao có tiệm bán dụng cụ kỹ
thuật), hết khoảng 75 $ bạc mặt; đây là một sự đầu tư
sáng giá vì tôi dùng mớ dụng cụ
này hành nghề, kiếm tiền nuôi bản thân
và gia đình, mua xe, mua nhà, du lịch đây
đó... cho đến nay, sau 28 năm, vẫn còn ở trong
tình trạng tốt!
Sáng hôm sau, tôi có mặt tại trạm xe bus ở
Norwalk trước 5 giờ sáng, khi tới Compton, vừa xe bus, vừa lội
bộ gần như chạy, 8 giờ tôi cũng đến sở. Trình diện
phòng họa đồ, ông Barn trưởng phòng họa đồ cho
biết: ông Frank nói tôi không có xe,
ổng ở Baldwin Park, ổng nói nếu tôi có mặt ở giao
điểm 605 và Florence ở Santa Fe Springs lúc 7 giờ
sáng, ông sẽ cho tôi ca-pun đi làm. Mừng hết
lớn, tôi cứ y kế thi hành. Đến ngày lãnh
lương, tôi đưa ông 50 $, gọi là tiền xăng nhớt,
ông từ chối, nói là để dành mua quà
Giáng sinh cho con!
Việc làm thực ra dễ dàng, không có gì
đáng nói. Thấy tôi làm cẩn thận, làm
nhanh và chữ đẹp, hai ngày sau khi nhận việc, ông
trưởng phòng bảo tôi mỗi ngày làm hai giờ
OT, nhưng ông không làm, như vậy có nghĩa
là tôi không có xe về. Tan sở, xe bus về
Norwalk không còn, tôi phải đi xe bus tới đao-tao
Eo-Ê, xong lấy xe bus Santa Ana, nửa đường xe ngừng ở Norwalk, xe
bus Norwalk cũng không còn, tôi phải cuốc bộ về
nhà, đến nhà là 9 rưỡi đêm! Tuần sau,
ông bảo tôi làm cả ngày thứ bẩy, như vậy
có nghĩa là sáng sớm tôi phải cuốc bộ từ
nhà tới gần đao-tao Norwalk, lên xe bus đi đao-tao
Eo-Ê, từ đao-tao Eo-Ê lấy xe bus đi Compton, cuốc bộ một
hồi tới sở, chiều đi ngược lại lộ trình về nhà, lại 9
rưỡi đêm. Trời California vào tháng 11 và
tháng 12, sáng sớm và tối mịt đi bộ ngoài
đường , áo lạnh thì đại khái, lạnh thấu xương,
thấu tủy, răng đánh lập cập! Biết là cực, nhưng biết
thân phận FOB, đành chịu trận thôi!
Trong sở, tôi ngồi ngay cạnh ông trưởng phòng, ban
tôi chỉ có 4 người, tuy là trưởng phòng,
ông cũng vẫn phải cày như chúng tôi.
Ông cho tôi biết, hãng này mượn tiền của
nhà băng Crocker, nhập cảng máy tiện từ Âu
châu về, sửa đổi để chạy NC (numerical control). Vì hết
chiến tranh Việt Nam, máy tiện không bán được
nên nhà băng nắm quyền quản trị, thuê John,
ông kỹ sư trưởng từ Michigan xuống để chỉnh đốn lại. Tôi
cùng một người nữa được thuê làm để chỉnh lại hồ sơ
kỹ thuật của các máy cũ, đồng thời tung ra một kiểu
máy mới tân tiến, độ chính xác cao hơn, nhằm
chiếm lại thị trường. Ông cũng hỏi tôi ở Việt Nam
làm gì, tôi dấu nhẹm việc làm đồ án
cầu, đường, doanh trại... chỉ kể những công việc thời đầu thập
niên 60 tôi làm cho hãng Pháp ASAM ở
Sài Gòn như tham dự làm những thành phần
chuyển vận và chế biến cao su cho Plantation des Terre Rouges,
Labbé, Liandrat... cho công ty giấy Cogivina, cho
nhà máy đường Hiệp Hòa, cho hãng chế biến
cà phê Rossi...
Nhờ làm OT liên miên, cái chếch của tôi
mập hẳn lên, cũng bõ những ngày thức khua dậy sớm.
Tôi vừa chân ướt chân ráo đến đây
(đúng là FOB! ), cần đủ mọi thứ, rất cần tiền và
cần một cái xe.
Làm được một tháng 20 ngày, một tuần lễ trước
Giáng sinh năm 1975, hãng bất thình lình
đóng cửa. Số là nhà băng Crocker đổi ý,
không muốn tuôn tiền ra cho hãng Given chỉnh đốn
nữa, họ lấy hết máy xiết nợ, rồi đem bán đấu giá.
120 công nhân thất nghiệp. Dĩ nhiên là
tôi nằm trong số đó, ông Barn trưởng phòng
cũng chung số phận. Chiều hôm đó, tan sở, đem thẻ ra
vào cổng trả cô thư ký văn phòng, cô
nhận lấy, ném vào một thùng giấy (tôi thấy
đầy một thùng), rồi trao cho cái chếch chót.
Trên đường về, ông Barn bảo tôi:
- Tôi thất nghiệp nhiều lần rồi nên quen đi, không
buồn phiền gì cả. Chú mày mới làm
cái giốp đầu tiên lại bị thất nghiệp như thế này
nên dễ mất tinh thần lắm. Không sao đâu, đi khai tiền
thất nghiệp đi, en-gioi cái Giáng sinh, tháng
Giêng đi tìm việc khác. Thất nghiệp vài lần
rồi chú mày cũng quen đi, không buồn nữa!
Ông chở tôi về giao điểm 605 và Florence ở Santa Fe
Springs, vỗ vai tôi nói vài lời khích lệ,
thả tôi xuống rồi nói "Gút-lắc! ".
Thứ hai, tôi đi khai thất nghiệp, nhờ làm nhiều OT,
tôi đạt điều kiện "ba tháng vừa qua, lợi tức trên
hai ngàn", tôi được lãnh tiền thất nghiệp, khoảng
180 $ một tuần. Tôi ghé lại văn phòng EDD để
tìm việc, bảng cáo thị trống trơn: không
hãng sở nào mướn người khi năm cùng tháng
tận!
Hôm Giáng sinh, ông Barn cho con ông
lái xe xuống Norwalk chở cả nhà tôi lên
nhà ông en-gioi lễ Giáng sinh, hát
bài gì về Giáng sinh, khởi đầu bằng câu "Rồ
rồ rồ...", ông cho quà chúng tôi và
các cháu nhỏ, chúng tôi biếu ông chai
Cognac. Hai ba tháng sau, tôi có xe, lái xe
lên Baldwin Park thăm ông thì ông đã
dọn lên San Jose (?), không để lại địa chỉ. Người ở tại
nhà ông là người mới tới thuê, không
biết ông là ai. Tôi về viết thư lên địa chỉ cũ
của ông hy vọng bưu điện sẽ chuyển tới ông, nhưng thư bị
trả lại, ông không khai để chuyển thư. Mất liên lạc.
Tới nay tôi vẫn còn cảm kích trước lòng tốt
của ông và biết ơn ông.
Tôi hưởng lễ Giáng sinh đầu tiên trên đất Mỹ
trong nỗi buồn thất nghiệp, thêm tinh thần bất ổn, lo ngại cho
tương lai, không biết ra Giêng sẽ ra sao...
Làm Việc Tại Alaska
Việc làm đầu
tiên của tôi trên đất Mỹ là làm họa
viên cơ khí cho hãng Given, làm máy
tiện NC (numerical control) trên đại lộ Santa Fe, thành
phố Compton ở California. Gia đình tôi cư ngụ tại Norwalk.
Một tháng 20 ngày sau khi thuê tôi,
hãng đóng cửa, 120 công nhân, cả thầy lẫn thợ
bị lây-óp, dĩ nhiên trong đó có
tôi, kẻ mới bắt được cái giốp đầu tiên trong cuộc
đời tị nạn!
Sau lễ Giáng sinh, sau Tết tây, ngày 16-1-1976
tôi xin được việc khác, structural drafter cho hãng
DMJM, gọi tắt là Đim-Jim. Hãng này trước kia
có chi nhánh trên đường Yên Đổ, Sài
Gòn, Việt Nam; tôi đã từng làm trưởng
phòng họa đồ cho DMJM tại Việt Nam. Khi hãng được chọn để
hướng dẫn cách làm đồ án đường và xa lộ tại
cục Công Binh QĐVNCH tại Phú Thọ, tôi đã từng
làm trong ban giảng huấn. Năm 1972 tôi nghỉ làm, ra
mở hãng làm đồ án, cạnh tranh trực diện với DMJM,
tôi bắt được công tác đì-zai cầu Ea
Krông, chiếc cầu lớn nhất vùng II trên quốc lộ 14
ngay gần Ban Mê Thuột, cầu mà DMJM cũng bỏ thầu, nhưng
không trúng!
Vậy mà khi đến hãng ở Wilshire Blvd, đao-tao Los Angeles
cho ông kỹ sư trưởng anh-teẹc-viu, ông ta chê
tôi không có "kinh nghiệm địa phương", ông hỏi
tôi có biết gì về AISC, về AIC, về UBC, về
sai-s-mích, A-mê-ri-cân Sì-tăng-đa...
tôi trả lời có cái có, có cái
không, vì tôi biết là tôi chỉ xin
làm họa viên, nhiều điều ông ta hỏi không
liên quan gì đến chức vụ của tôi. Tôi
nói thêm:
- Thưa ông, tôi đã từng là trưởng
phòng họa đồ của DMJM tại Việt Nam!
Ông hỏi ngược lại tôi:
- Ai biết chuyện đó ?
- Ông Martin, phó giám đốc của Đim-Jim, trước kia
ổng là Giám đốc đồ án tại Việt Nam.
- Được, tôi sẽ chếch với ông Martin rồi kêu anh sau!
Hôm sau ông ta kêu lại tôi, óp-phơ
tôi 6.40 $ một giờ (1100 $ một tháng), vì tôi
khai công tác trước tôi làm được 950 $. Anh
bạn cùng đi với tôi, ông ta chỉ trả 2.80 $ một giờ
(485 $ một tháng), vì anh ta không có kinh
nghiệm địa phương! Thời bấy giờ lương tối thiểu là 2.10 $/ giờ;
anh bạn tôi dù đã có việc làm ở nơi
khác cao lương hơn (nhưng không phải là về đồ
án) cũng buộc phải nhận hầu có kinh nghiệm địa phương với
người ta; mấy tháng sau, thấy anh ta làm được, mà
còn làm giỏi nữa là khác, họ tăng lương cho
anh ngay.
Tôi đi làm, nhưng không phải ở văn phòng
chính, mà DMJM gửi tôi xuống làm tại văn
phòng phụ ở El Segundo, gần phi trường Los Angeles. Công
việc là làm đồ án xây cất King Khalid
Military Academy tại Saudi Arabia. Chín tháng sau hết
việc, gần trăm chuyên viên bị lây-óp, nhưng
tôi được giữ lại, gửi về văn phòng chính ở Wilshire
Blvd, đao-tao Los Angeles. Tháng sau, hãng chính
cũng cạn việc, biết ngày cuối cùng cũng cận kề, tôi
chuẩn bị xin việc mới nhưng chưa biết tìm đâu. Bỗng
nhiên hãng Santa Fe Engineering ở Orange điện thoại, hỏi
năm ngoái tôi gửi đơn xin việc ở hãng này,
nay còn muốn đi làm không ? Có hả, mai
ghé anh-teẹc-viu được không ?
Kỳ này tôi có kinh nghiệm địa phương (làm
tới gần một năm rồi tại Los Angeles! ) nên "ngon" rồi, tổng cộng
tôi có 17 năm kinh nghiệm trong nghề, tôi được mướn
ngay. Giã từ DMJM, tôi sang làm cho Santa Fe từ
20-9-1976 và được trả 1200 $ một tháng, số lương
khá thơm hồi đó. Tháng sau, một anh kỹ sư Đại
Hàn đã làm lâu ở đây cho biết, anh họa
viên ngồi đó tên Rudy lương thấp nhất, chỉ có
1400 $ vì anh ta chỉ có 5 năm kinh nghiệm! Nghe
thì biết vậy, nhưng cũng biết là thân tị nạn mới
qua, sẽ còn bị đời ăn chận nhiều, tuy hơi cay đắng chút
đỉnh, nhưng không buồn quá 5 phút!
Hãng Santa Fe chuyên về làm đồ án và
xây cất dàn khoan dầu ngoài khơi, bến tàu,
cầu tầu, tàu khoan dầu, nhà máy lọc dầu...
trên toàn thế giới. Dàn khoan Bạch Hổ ngoài
khơi Việt Nam trước năm 1975 là do chi nhánh hãng
này tại Singapore phụ trách.
Năm đầu tiên, nhờ làm việc nhanh và chăm chỉ, tiết
kiệm nhiều thì giờ cho công tác, tôi được
tăng lương 4 lần và được cất nhắc lên làm lead
person, nắm trong tay một đồ án nhỏ; năm thứ nhì tăng
lương 3 lần.
Tôi còn nhớ, cuối năm 1976, một hôm rảnh rãi,
tôi xem bộ họa đồ đường ống dầu xuyên tiểu bang Alaska do
hãng khác lập đồ án, thấy cái pipe saddle,
cơ phận chống đỡ đường ống chính (ống dầu chính đường
kính 8 feet, tức là 2.40 m) lên cột chống (pipe
support), đồng thời cho ống và cột có thể co dãn
mỗi khi nhiệt độ tăng hay giảm; cơ phận này vừa nhiều bộ phận,
vừa khó hàn, vừa nặng, vừa tốn tiền, tôi ngứa tay,
lấy bút đỏ sửa lại, ít bộ phận hơn, dễ hàn hơn,
nhẹ hơn và dĩ nhiên tiết kiệm tiền. Khi ông kỹ sư
trưởng người Hoa ghé ngang, tôi nói chuyện với
ông về việc này, ông xem, đồng ý với
tôi, nhưng nói:
- Đây đâu phải đồ án của mình, đừng lo!
Hai ba ngày sau ông quay lại hỏi tôi, tấm hoạ đồ
tôi sửa đâu ? Tôi lấy ra đưa cho ông, ông
đem cho ông phó giám đốc xem. Sau này
tôi mới biết ông phó giám đốc đang thương
thảo bắt một công tác turn key (vừa làm đồ
án, vừa xây cất) trị giá cả gần tỉ bạc với Alyeska,
chủ nhân của đường ống dầu xuyên tiểu bang Alaska, một
công tác khá lớn cho Santa Fe. Trong câu
chuyện làm quà, ông phó của Santa Fe cho
Alyeska cái họa đồ sửa đỏ của tôi; Alyeska thấy có
lý, cho lệnh những pipe saddle nào chưa làm
thì làm theo họa đồ tôi sửa; kết quả là
khoảng 20 - 25% tổng số pipe saddles của 800 miles đường ống dầu
làm theo họa đồ của tôi, đó là đoạn
chót của ống dầu ở gần Valdez, miền Nam Alaska.
Năm 1990, một cựu kỹ sư của Santa Fe (khi này Santa Fe đã
bị bán đi bán lại mấy lần, nát như cái mền!
) quá giang Anchorage, thấy trong số những post cards về Alaska
có tấm ảnh do một anh nhiếp ảnh gia méo mó nghề
nghiệp sao đó, chụp đường ống dẫn dầu chính phía
dưới có cái pipe saddle, nhớ lại chuyện cũ, ông mua
và gửi về cho tôi một tấm, việc này gợi lại chuyện
cả một phần tư thế kỷ trước, làm tôi thật cảm động.
Vì chuyện sửa họa đồ cái pipe saddle, mấy tháng
sau, khi đã bắt được công tác của Alyeska,
ông phó của Santa Fe kêu tôi vào, bắt
tay khen tặng và tăng lương cho tôi thêm 50$ một
tháng (!). Nếu quý bạn có dịp du lịch hay
công tác lên Alaska, xin nhớ tìm mua
cái post card chụp hình đường ống chính và
cái pipe saddle của Trans Alaska Pipeline, dấu ấn của một kẻ tị
nạn Mít trên đất Cờ Hoa! Cái saddle này mở
đường cho tôi thăng tiến sau này trong hãng Santa
Fe.
Năm 1978, tôi mua một căn nhà ba phòng ngủ tại La
Mirada, California, giá 62500 $. Tiền nhà, thuế và
bảo hiểm món nợ, cộng lại là 550 $ một tháng. Gia
đình tôi gồm 6 người: thân mẫu tôi, hai vợ
chồng, ba cháu nhỏ; nhà tôi đi học toàn
phần, tất cả trông vào số lương đã nêu
phía trên, nên tháng nào cũng phải rất
dè sẻn, nếu có gì bất thường như hỏng xe, quan
hôn tang tế... thì thiếu.
Tháng 8-1978, một hôm ông phó giám đốc
kêu tôi vào văn phòng, hỏi tôi
có kinh nghiệm gì về CPM scheduling (làm thời
khóa biểu xây cất), vì trước đây tôi
ghi vào resumé là đã từng có 3 năm
làm CPM scheduling. Tôi trả lời tôi làm CPM
scheduling về cầu, đường, phi trường, bộ chỉ huy Giang cảnh (doanh trại
có nhà, đường, cầu tầu... ; thời đó, 1978, xốp-oe
Primavera đâu đã chào đời! ). Ông phó
hỏi tôi có muốn đi làm trên Prudhoe Bay,
Alaska khoảng 6 tháng, chức vụ là scheduling engineer,
tôi phải làm mỗi ngày 10 giờ, một tuần 7
ngày, ăn ở hãng đài thọ. Làm việc ba tuần,
được cho về nhà nghỉ hai tuần, lãnh lương cả năm tuần,
tiền vé máy bay, ăn uống dọc đường, xe chở về tận
nhà hãng trả hết, lương được tăng lên 1.864 lần
lương tại California... tóm lại là gần gấp đôi!
Tôi có muốn đi không ? Tôi trả lời xin cho về
nói chuyện với gia đình.
Về nhà nói chuyện với nhà tôi, nhà
tôi nói là nhận lời đi, lạnh một chút, nhưng
cơ hội này giúp chúng tôi qua cơn
túng thiếu.
Thế là tháng 9-1978, tôi đáp chuyến
máy bay từ LAX lên SeaTac, tiểu bang Washington, rồi từ
SeaTac lên Anchorage. Bước ra cửa phi trường Anchorage thấy nhiệt
độ kế chỉ 0 độ F. Từ phi trường, kêu taxi tới văn phòng
Alyeska (Alyeska là hãng dầu hỏa lớn ở Anchorage, taxi
nào cũng biết văn phòng Alyeska!) trình diện,
lãnh trang bị làm việc trên Artic Circle, gồm quần
áo lạnh, giầy, bao tay... đây là những trang bị để
chống lại cái lạnh (-) 150 độ F (xin ghi nhận 32 độ F bằng 0 độ
C, nhiệt độ nước đóng thành đá). Quay lại phi
trường, chờ máy bay riêng của hãng dầu SOHIO
lên Prudhoe Bay, trên vùng North Slope, nơi
còn có một cái tên nặng mùi tử
khí là Dead Horse!
Phi trường Prudhoe Bay chỉ là một bãi đáp
cán đá, không có đài kiểm soát
không lưu, nói gì đến phòng chờ đợi. Khi phi
cơ ngưng bánh, có người mở cửa đuôi, khí
lạnh ùa vào ngay lập tức, lạnh thấu xương. Tôi
khoác cái parkas vào mình, theo mọi người
xuống cầu thang. Tôi than lạnh, ông Mỹ đi cạnh nói:
- Hôm nay trừ 45 độ là ấm đấy, rồi anh sẽ thấy
cái-mà-ta-gọi-là-lạnh ở Alaska!
Chúng tôi lục tục leo lên xe bus về trại SOHIO,
cách phi trường không xa.
Nơi chúng tôi ăn, ở và làm việc, tại Prudhoe
Bay là một căn nhà tiền chế lớn, bằng kim loại, xa xa
là căn nhà khác của Arco. Xung quanh, khoảng 250
mai bán kính, hoàn toàn không
có nhà cửa, cây cối, dân cư... chỉ có
tuyết, tuyết bạt ngàn san dã, tuyết mút chỉ đến
tận chân trời... người làm trên đó gọi
đùa là "đao-tao Dead Horse"! Phía Tây,
cách Deadhorse khoảng 250 mai là Point Barrows,
thành phố duy nhất của người Eskimo ở phía Tây Bắc
Alaska.
Trại là nhà ăn, nhà ở, phòng giải
trí, phòng thể thao, thư viện... Nhà ăn có
thể chứa 200-300 người, mở cửa 24/24, món ăn thay đổi
hàng ngày, ngon hơn bất cứ một nhà hàng
ngon nhất nào ở lower 48 (lower 48 là tiếng mà
dân Alaska gọi xách mé 48 tiểu bang "miệt dưới"!),
nhất là New York steak và hải sản. Nhà ở
thì gồm nhiều phòng, mỗi phòng hai người,
sáng ra có người làm phòng như hotel, sạch
sẽ, thoải mái; sau khi làm được một tháng,
tôi được phát riêng một phòng (lẽ ra
phát cho hai người ở chung). Phòng giải trí gồm
một rạp chiếu bóng, mỗi tối chiếu hai phim, một phim mới như
ngoài rạp, một phim cũ; một phòng TV, phát lại
chương trình ở Anchorage ngày hôm trước; một
phòng billard; phòng đánh bài...;
phòng thể thao gồm sân bóng truyền, bóng rổ,
ping pong, phòng tập thể dục, sauna... tất cả đều ở trong
nhà.
Công việc của tôi khá giản dị: mỗi ngày
làm việc 2 hoặc 3 giờ, số thời giờ còn lại ngồi đọc
sách hay viết sách... nhiếp ảnh. Việc làm
thì kiểm soát trên giấy tờ xem nhà thầu
này ngày hôm trước dùng mấy loại thợ, thợ
nào cho công tác nào, tổng số giờ chi
tiêu, tính ra bách phân, so với bách
phân tiến triển công tác, tính ra tiền rồi
ký tắt chấp thuận, gửi sang phía chủ nhân trả tiền.
Thỉnh thoảng có công tác bất thường, thí dụ
như phải sửa đổi hay thêm bớt gì vào công
tác đã thực hiện, phải nghiên cứu xem cần
dùng mấy sắc thợ, làm mấy ca, sao cho hoàn tất
công tác một cách tốt đẹp nhất, rẻ tiền nhất
mà không làm trễ nải dây truyền, ảnh hưởng
đến ngày hoàn tất đã định sẵn, ngày
này không thể thay đổi. Mỗi ngày trễ nải có
thể bị phạt tới mấy trăm ngàn đô! Mỗi sáng thứ tư
tôi phải thuyết trình trước một nhóm chức sắc SOHIO
về tiến triển hay trở ngại trong tuần, dự tính cho tuần tới
và đoán trước các trục trặc có thể
có và đề nghị giải pháp giải quyết vấn đề, hoặc
xin chỉ thị, tâÙt cả mất khoảng nửa tiếng.
Tôi có một anh Mỹ đồng nghiệp luân chuyển: tôi
làm 3 tuần rồi về lower 48 hai tuần, trong khi đó anh ta
làm 3 tuần rồi về nghỉ hai tuần, mỗi lần luân chuyển
chúng tôi có nửa tuần làm gối đầu để
bàn giao công việc, sau đó tự lực làm 2
tuần. Anh này nguyên là một tay phản chiến cuộc
chiến Việt Nam trước đây, đi biểu tình, bị cảnh sát
Berkley đánh dùi cui vào đầu rồi đem nhốt,
nên bị chạm dây, ghét cảnh sát và khi
gặp tôi, biết tôi là người Việt thì anh ta
khó chịu ra mặt. Lần đầu, phải làm chung một tuần rưỡi,
chúng tôi buộc lòng phải nói chuyện, từ từ
tôi và anh ta hiểu nhau hơn, tối ngồi nói chuyện
trong cafeteria về chiến tranh Việt Nam, về phản chiến bên Mỹ...
tôi cho anh ta biết về cuộc chiến Việt Nam theo quan điểm của
người Việt, chúng tôi chỉ là nạn nhân của hai
thế lực mạnh là cọâng sản và tư bản, dần dần
tôi với anh ta thân nhau hơn. Sau khi về nghỉ 2 tuần R
& R ở San Francisco, khi lên, anh ta mua cho tôi hai
cái bánh trung thu ở Chai-na-tao San Francisco. Một lần
anh ta phải chơi basket ball cho đội banh Santa Fe, mà anh ta bị
đau ể mình, nhăn như khỉ. Tôi bảo để tôi chữa cho.
Tôi đổ cả chai dầu nóng lên lưng anh ta rồi cạo
gió cho một hồi, sau đó bảo anh ta đắp chăn kín.
Hai giờ sau anh ta gần như hoàn toàn bình phục, ra
sân chơi banh như thường. Anh ta phục quá, khoe cả sở rằng
tôi có witch craft! Tôi còn giữ liên
lạc với anh khoảng 2 năm sau khi chấm dứt công tác
trên Prudhoe Bay và có giới thiệu anh đi xem cuộc
triển lãm ảnh nghệ thuật của nhiếp ảnh gia Đơn Hồng Oai ở San
Francisco.
Sau đây là vài điều tôi học được khi
làm việc ở miền cực Bắc Alaska:
* Lạnh. Trong suốt mùa đông, nhiệt độ luôn ở trong
khoảng từ (-) 45 độ tới (-) 100 độ F. Ngày lạnh nhất tôi
gặp trên Prudhoe Bay là (-) 117 độ F, ngày
5-3-1979. Khi đã quá lạnh, thí dụ (-) 45 độ, nay
có lạnh thêm đi nữa, thí dụ (-) 100, mình
không nhận thấy sự cách biệt (cùi không sợ
lở! ).
* Trời đã lạnh, gió thổi thì sẽ làm lạnh
thêm, điều này gọi là chill factor. Dân
Alaska đều biết "luật 30/30/30", nghĩa là nếu trời lạnh (-) 30
độ F, gió thổi 30 mph thì với bộ quần áo như ta
mặc ở dưới lower 48 này, ta chỉ sống an toàn trong 30
giây!
* Ở nhiệt độ lạnh, thí dụ (-) 45 độ F, nếu ta lấy một ly
cà phê nóng, bước ra cửa, hất ly cà
phê đó lên trời thì ta sẽ không thấy
giọt nước nào rơi xuống đất, tất cả đều biến thành hơi
nước, bay vật vờ rồi tan trong gió. Tôi không
rõ ở nhiệt độ nào thì nước nóng bắt đầu
biến thành hơi, vì trong suốt thời gian tôi ở
trên đó, (-) 45 độ F là nhiệt độ ấm nhất!
* Cái lạnh ở Alaska là lạnh khô, ta không thể
nào nắm thuyết thành trái banh: tuyết rời ra như
cát vậy.
* Theo lệnh của SOHIO, khi nhiệt độ lạnh dưới 25 độ F, phải để
máy xe chạy 24/24, hoặc nếu có chỗ cắm điện để giữ
máy sưởi chạy thì mới được tắt máy. Chìa
khoá dĩ nhiên ở với xe. Máy sưởi giữ cho ốâng
xăng không bị đông đặc. Nếu ống xăng bị đông đặc,
phải câu xe về xưởng, sưởi cho ống xăng ấm, xăng loãng ra
thì mới đề máy được. Thành ra xe nào ở
trên đó số đồng hồ mai thì thấp nhưng máy
chạy hàng ngàn, hàng chục ngàn giờ!
* Đêm, khi ta đi ngủ, sẽ có một toán trùng
tu xe đi kiểm soát từng xe một, thấy xe tới ngày
trùng tu thì tự động kéo về garage, họ
trùng tu xong trong đêm; sáng mai thấy xe đậu chỗ
khác có nghĩa là đêm qua có người
nào đó sử dụng xe mình, hoặc xe đã được đem
về xưởng trùng tu. Đêm cũng có xe bồn đi kiểm
soát xăng, nếu thấy hết xăng, họ tự động đổ đầy xăng vào
bình cho mình.
* Mỗi xe đều được trang bị một máy CB. Sáng ra, khi đề
máy, tài xế phải thử CB bằng cách kêu
đài kiểm soát trung ương, phòng khi đi lạc hay
hỏng máy xe, ta có thể liên lạc xin cấp cứu. Xe
nào cũng bắt buộc phải có mấy cây đèn cầy
và hộp quẹt. Nếu xe chết máy, 45 giây sau, trong xe
cũng lạnh như ngoài xe. Đốt một cây đèn cầy
lên, nhiệt độ trong xe có thể tăng 40 độ F (phải nhớ
hé cửa sổ cho thán khí thoát đi).
* Nếu ta lỡ tay lái xe lạc xuống lề đường, ta sẽ để lại dấu vết
vỏ xe trên lớp tundra, dấu vế đó sẽ tồn tại cả 10 000 năm.
Nếu việc đó xẩy ra, cơ quan bảo vệ môi trường, có
trụ sở tại đao-tao Dead Horse, văn phòng do hãng dầu
đài thọ, sẽ cho ta một Warning Ticket in khá đẹp.
Tôi thấy một anh trong văn phòng bị ticket, anh ta
lên khung kính, treo trong văn phòng làm kỷ
niệm.
* Không khi nào dùng tay trần để cầm bất cứ vật
gì bằng kim loại, thí dụ như mở cửa xe, mở nắm cửa, cầm
ống nước, cây sắt... vì da tay có thể dính
như gắn keo vào kim loại; nếu cố gắng mở tay ra thì lớp
da tay sẽ bị lột ra khỏi tay (giống như khi ta lấy ngăn làm
đá trong tủ lạnh, thấy tay dính dính, nhưng ngăn
đá tủ lạnh trong nhà không lạnh bằng cái
lạnh Alaska).
* Alaska có hai tháng rưỡi hoàn toàn tối
đen 24/24 vào mùa đông và hai tháng
rưỡi hoàn toàn sáng vào mùa
hè. Khoảng đầu tháng ba, sau hai tháng rưỡi đen
tối, mọi người được thông báo, ngày đầu tiên
có ánh sáng ngày, ánh sáng sẽ
lâu được MỘT phút! Mọi người chờ đợi đến giờ mặt trời mọc,
nhưng phía đông nam dường như chỉ hơi sáng hơn một
chút (hay là chúng tôi tưởng tượng như vậy
?), hoặc chẳng có gì thay đổi. Ngày thứ
nhì, ánh sáng ngày kéo dài
được ba tiếng đồng hồ và mọi người như thấy tỉnh hẳn ra.
* Đất Alaska là một cây nước đá khổng lồ chôn
dưới đất, gọi là permafrost. Ở phía Nam, như Anchorage,
Valdez, lớp đất bao phủ dầy nên cây to như cây
thông có đất nuôi cây và giữ gốc
cây cho vững nên có cây mộc lớn; càng
về miền Bắc như Point Barrows, Prudhoe Bay, lớp đất rất mỏng nên
cây mộc không sống nổi, chỉ có cỏ và bụi
cây nhỏ, sinh sống trong mùa hè ngắn ngủi.
* Nhà ở hay nhà kho, nếu không muốn nhà bị
chìm vào lòng đất thì phải làm hổng
trên mặt đất khoảng hai, ba feet để cho khí lạnh
lùa qua. Tôi đã thấy nhà kho làm
trên mặt đất, bị lún xuống khoảng 1.5 feet vì
kín gió, phía trong ấm hơn phía
ngoài, khiến lớp permafrost tan, nên nhà
chìm xuống.
* Mỗi tuần tôi được huấn luyện hai giờ về thoát hiểm
và mưu sinh vùng Bắc Cực, gọi là Artic Survival
Training. Sau 20 giờ học tập, tôi được phát một chứng chỉ
trên có in hình con condor đậu trên một
cây chết khô, nhìn xuống một nạn nhân tương
lai đang bò lê lết trên tuyết. Tôi đem về
đóng khung, treo làm kỷ niệm.
* Tháng 2-1979, trong khi đang làm ở Alaska, tôi
nghe tin Trung Quốc đem quân đánh vào Việt Nam để
cho Việt Nam một bài học. Tôi sang phòng người bạn
mượn anh ta cái radio shortwave để nghe tin chiến sự, nhưng
không phải lúc nào muốn nghe cũng có tin...
Tôi nghe tin cuộc chiến với nhiều cảm xúc trái
ngược, lẫn lộn...
* Một hôm tôi mượn được chiếc xe Rolligon (xe half track,
hai bánh trước bằng cao-su, phía sau chạy xích như
xe tăng), tôi lái lên phía Bắc thăm một
dàn khoan dầu ngoài biển cách đao-tao Dead Horse
khoảng 8 miles. Trong trí tưởng tượng, tôi sẽ gặp bờ biển,
dàn khoan sẽ ở ngoài khơi hai miles (bản đồ vẽ như vậy),
nhưng không thấy dấu biệu bờ biển đâu cả, nên
tôi cứ lái, đến tận chân dàn khoan. Khi
đó tôi ở trên Bắc băng dương, lớp nước đá
đóng băng có lẽ dầy đến 8 feet hoặc hơn. Tôi leo
mấy trăm bậc thang lên dàn khoan, cao như một cao ốc, mệt
muốn đứt hơi. Nhân viên dàn khoan rất đỗi ngạc
nhiên khi thấy có một anh Ô-riêng-tồ bỗng
nhiên đến thăm. Tôi tự giới thiệu là người
đì-zai mấy dàn khoan dầu ngoài khơi, muốn được xem
cách thức dàn khoan dầu vùng Bắc Cực phá
băng như thế nào. Họ ngạc nhiên một cách
thích thú, đãi tôi như một thượng
khách, dẫn đi xem mọi nơi trên dàn khoan, chỉ cho
xem cách điều hành và đãi tôi bữa ăn
trưa trên dàn khoan rất thịnh soạn (thực phẩm trên
tất cả các dàn khoan dầu đều ngon! ). Sau đó
tôi chào tạm biệt, họ bỏ tôi vào cái
"rọ" bằng sắt, lấy cần trục câu cái rọ, thả tôi
xuống gần xe của tôi để tôi khỏi phải trèo mấy trăm
bậc thang xuống!
* Thời gian tôi làm trên đó có một
phái đoàn dầu hỏa của Liên Sô, một của Trung
Quốc đến thăm công trình xây cất, phái
đoàn nào cũng chụp rất nhiều ảnh, thấy gì cũng
chụp, không biết họ có khai thác được gì
không, vì tuy nhà máy ở Prudhoe Bay, nhưng
bị điều khiển từ Valdez, ở miền Nam Alaska, cách đó
500-600 miles.
Tôi rời Prudhoe Bay, Alaska về lại California, The Lower 48,
ngày 6-3-1979, khi công tác gần hoàn tất.
Bấy giờ là gần đến mùa Xuân, nhưng Prudhoe Bay vẫn
lạnh (-) 105 độ F, Anchorage (-) 30 độ và Seattle, 15 độ F.
Từ đó đến nay, 23 năm rồi, tôi vẫn chưa có cơ hội
trở lại Alaska và tôi tất mong có cơ hội quay lại
Prudhoe Bay một lần nữa.
Tôi Tham Dự Việc "đì-zai"
Nhà Máy Cogen
Tính đến năm 1986
tôi đã làm việc cho Santa Fe Engineering được 11
năm. Đây là một hãng lập đồ án và
xây cất các dàn khoan dầu ngoài khơi, tầu
khoan dầu, cầu tầu, ống dẫn dầu, nhà máy lọc dầu...
trên khắp thế giới. Hãng có bổng lộc tốt cho
nhân viên, các xếp trực tiếp của tôi đều lịch
sự, cởi mở, tăng lương cho tôi dài dài và
tôi được đối xử tử tế, điều kiện làm việc nơi đây
rất thoải mái. Ông kỹ sư trưởng và trưởng
phòng họa đồ đã từng nói với tôi:
- Minh, anh sẽ về hưu với hãng này!
Có nghĩa là tương lai tôi được bảo đảm, tôi
sẽ làm ở đây cho đến khi về hưu và tự trong
thâm tâm tôi cũng nghĩ vậy. Năm 1984, Santa Fe mua
hãng C.F. Braun, hãng làm đồ án trứ danh,
thường được mệnh danh là The Cadillac of the Design Industry,
cho cảm tưởng việc làm mãn đời của tôi tại Santa Fe
là chuyện đương nhiên.
Năm 1984, quốc hội Mỹ thông qua một đạo luật cấm khoan dầu
trên thềm lục địa Mỹ, đồng thời bỗng nhiên mặt trận dầu hỏa
toàn cầu cũng thay đổi (tôi không rõ
vì sao), hãng tôi không bắt được giốp quốc
nội đã đành, mà giốp quốc ngoại cũng không,
hãng sống ngáp ngáp được thêm hai năm nữa;
cuối năm 1986 cạn việc, hãng sa thải công nhân theo
kiểu tàn sát tập thể: chuyên viên đồ
án các ngành, từ 9 nghìn người xuống
còn khoảng 200, tuần nào cũng đi khoảng trăm rưởi người!
Vì đã biết trước cả năm, việc sa thải tôi
không làm tôi ngạc nhiên.
Ngày chót, 10 rưỡi sáng thứ sáu đem đồ
dùng cá nhân ra khỏi hãng, đi ăn trưa
cùng mấy bạn đồng cảnh ngộ, 2 giờ chiều tôi ghé văn
phòng lao động điền đơn khai lãnh tiền thất nghiệp. Bấy
giờ là cuối tháng 11, có lễ Tạ Ơn, tháng 12
có lễ Giáng sinh và cũng là năm cùng
tháng tận, tôi nghĩ chẳng có hãng nào
mướn người vào thời gian này, tuy vậy tôi cũng vẫn
gửi đi 20 cái resumé cho các văn phòng
tìm việc tạm thời, gọi là job shops. Có hôm
đọc trong mục tìm người trên báo Los Angeles Times,
một hãng nào đó tìm người, sau khi liệt
kê điều kiện này điều kiện nọ, đã thêm
hàng chữ này vào cuối cái cáo thị
tìm người "Nhân viên dầu khí xin miễn tiếp
xúc" (đây quả thật là một điều xâm phạm tiết
hạnh ngành nghề của tôi. Cầu mong cho hãng
này sớm xập tiệm! ). Hai tuần sau đó tôi giải quyết
vài chuyện riêng, rồi sách máy ảnh đi
Yosemete chụp hình (nhiếp ảnh là hóp-bi của
tôi). Nhà tôi biểu đồng tình:
- Đúng vậy, nghỉ vài tháng ở nhà cho khỏe,
anh làm việc đã nhiều rồi!
Mỗi tối tôi đều điện thoại về nhà. Sau khoảng một tuần,
một buổi tối kêu về, nhà tôi nói:
- Job shop kêu anh về đi anh-teẹc-viu!
Hôm sau tôi lái xe về, ghé văn phòng
job shop ở Artesia, cô thư ký đưa tôi thư giới
thiệu, gửi tôi ngày hôm sau lại hãng lọc dầu
Chevron ở thành phố El Segundo, gần phi trường LAX để phỏng vấn.
Số là hãng lọc dầu nào cũng có mớ
khí thải, dĩ nhiên là ô nhiễm, tối tối phải
đưa lên đốt bỏ ở mấy cái ống thật cao, gọi là
flare. Đốt khí thải vẫn tạo ra ô nhiễm. Chevron giải quyết
bằng cách xây cất nhà máy phát điện
Cogeneration gồm hai trains (hai máy phát điện),
dùng khí thải ô nhiễm trong nhà máy
lọc dầu, đốt trong máy Cogen, biến thành điện năng
dùng trở lại chạy nhà máy lọc dầu (chỗ điện thừa,
theo luật tiểu bang, Edison phải mua lại rồi bán cho dân
tiêu thụ), do đó giảm thiểu tối đa việc nhiễm không
khí. Tính ra khoảng hai năm thì hãng lấy
lại số vốn xây cất nhà máy, khoảng 150 triệu
đô la, sau đó là tiền lời! ... Đây là
kỹ thuật mới thời 1986 và Chevron đang thuê chuyên
viên làm đồ án này.
Hôm sau tôi đến trình diện. Phỏng vấn tôi
là một anh tên John, tôi nghĩ anh ta là một
xếp lớn, vì thấy anh ta mập mạp, da dẻ hồng hào,
dù làm trong nhà máy lọc dầu mà mặc
sơ-mi trắng dài tay, thắt cà-vạt, sách va-li,
áo lớn vắt tay, điệu bộ lúc nào cũng bận rộn, họp
hành liên miên, ngồi trong văn phòng lớn...
Sau một tuần làm ở đó, tôi mới biết anh ta cũng
là người phàm như cả đám chúng tôi,
sự khác biệt chỉ là anh ta là nhân
viên thực thụ của Chevron ở văn phòng chính ở
thành phố San Ramon, gần San Francisco, hãng biệt
phái xuống đây đặc trách coi về họa đồ. Vậy
thôi. Vậy mà anh ta khệnh khạng hơn cả ông kỹ sư
trưởng, thuê người, lây-óp người như chớp...
Khi anh John phỏng vấn tôi thì tôi biết ngay rằng
anh không phải là người trong ngành của tôi
và anh ta "rất impress" về những câu trả lời của
tôi, sau này anh ta nói vậy. Tôi được mướn
ngay, hôm sau là 4-12-1986 đi làm liền. Vậy
là tôi thất nghiệp được bốn tuần, nhận được hai cái
chếch thất nghiệp, sau đó lại đi cày tiếp...
Hôm vào làm, tôi được giới thiệu với
ông xếp trực tiếp, một ông Mỹ già tên Dave,
kính kéo xệ trên mũi, 24 năm thâm niên
với Chevron. Ông ta bảo tôi, sau công tác
này ông ta sẽ về hưu. Tuy là xếp, ông vẫn
phải cày như chúng tôi, cũng phải ra công
trường đo đạc... ông ta hiền lành, nói năng nhẹ
nhàng, có máu khôi hài. Ông hỏi
tôi vài câu về công việc làm, trước kia
làm những đâu, có biết thằng này, thằng kia
không... rồi giao cho tôi tờ họa đồ. Thời đó, năm
1986, chúng tôi vẫn còn phải vẽ họa đồ bằng
bút chì, viết chữ bằng tay; vẽ họa đồ bằng computer vẫn
còn là một trò chơi xa xỉ chưa mấy thông
dụng, chỉ mấy hãng lớn mới bắt đầu sử dụng.
Nội buổi sáng hôm đó, ông Dave bảo tôi
ngưng công việc làm của tôi 4 lần để sửa giùm
ông vài chi tiết trong mấy tấm họa đồ cũ. Lần thứ tư,
tôi lễ phép hỏi ông, có chuyện gì vậy
? Ông đáp:
- Tôi và thằng George (một tên đồng nghiệp của
tôi, làm đây đã được hơn năm) làm được
16 tờ họa đồ structural đầu tiên của nhà máy, đưa
xa city để xin giấy phép, bị city bác hai lần rồi.
Hãng làm sườn sắt đang chờ (họa đồ chưa được city chấp
thuận thì không ai giám cắt sắt, hàn, đục
lỗ...). Hiện giờ đồ án đã trễ mất hai tuần, nếu
không giải quyết xong việc này thì sẽ trễ dồn cục,
thiệt hại cả trăm ngàn. Văn phòng chính trên
San Ramon gửi cô Di Di, kỹ sư chính xuống đây
giúp mình sửa bộ họa đồ này. Mấy cái anh
sửa chữa sáng nay là do cô ta sửa đấy!
Tôi nói tôi nghĩ là tôi có thể
giúp giải tỏa được việc này, xin cho tôi coi
toàn bộ hồ sơ xem city hạch sách ra sao. Ông đưa
tôi qua gặp cô Di Di. Nhìn cách cô ta
giải quyết vấn đề, tôi biết rằng cô đang đánh vật
với bộ họa đồ, rằng cô là "cô kỹ sư màu lục"
(green engineer nghĩa là mới ra trường). Khi nói
tôi có thể giải quyết được vấn đề này, cô
không tin, cô yêu cầu tôi thử sửa hai tờ họa đồ
trước đưa cô xem, đây là thư phê bình
của city. Biết rằng đây là cơ hội cho tôi
trình diễn, nếu thất bại, tôi sẽ không ngóc
đầu lên được ở đây, trong giai đoạn này. Hai giờ
sau, tôi đưa hai tờ họa đồ "dính máu" cho cô
(họa đồ sửa nhiều quá, đỏ ngàu, dân họa đồ gọi
là họa đồ dính máu, bloody drawings). Nửa tiếng
sau, cô đem cả 16 tờ họa đồ và trọn hồ sơ kỹ thuật đưa cho
tôi:
- Tôi hiểu rồi, anh là designer. Làm ơn sửa cả
giùm!
Bốn ngày sau tôi sửa xong, đỏ ngàu cả 16 tờ họa đồ,
ông Dave và George ngồi sửa từng chi tiết một, tôi
coi lại rồi sửa tiếp. Tôi thêm vào một họa đồ chi
tiết, thành 17 tờ. Khi xong, cô Di Di coi lại, ông
John Worley kỹ sư trưởng ký tên rồi gửi ra city xin
phép theo thủ tục khẩn cấp (phải trả lệ phí cao hơn cho
city). City chấp thuận bộ họa đồ ngay và uy tín tôi
lên như diều!
Mấy tháng sau, Chevron óp-phơ tôi một giốp ở văn
phòng chính trên San Ramon. Tôi chở vợ con
lên xem văn phòng trung ương, thấy thành phố
tân lập, có mấy tòa nhà thật lớn giữa một
vùng đồi núi trọc, cỏ chết úa vàng,
không nhà cửa, tiệm tùng xung quanh, gió
thổi mấy bụi cây lăn theo triền dốc thoai thoải, trông cảnh
quạnh hiu giống mấy phim cao bồi miền Viễn tây của Clint Eastwood
tôi đã xem từ thuở nào... Gần đấy, thành phố
La Fayette có con suối chảy ngang, đẹp, nhưng nhà đắt như
vàng...
Đó là hình ảnh của San Ramon khoảng giữa năm 1987,
ngày nay chắc có khác hơn. Vợ con tôi thấy
cảnh tiêu điều hoang dã đều ớn lạnh, lắc đầu quầy quậy.
Tôi về nại cớ vậy vậy... cảm ơn xếp và cam phận làm
công với tư cách nhân viên "tạm thời".
Thường thường, nhà máy lọc dầu, hóa chất... đều
cấm không cho ai đem máy chụp ảnh vào chụp loạng
quạng những gì trong nhà máy, không phải
có gì bí mật cần phải giữ, nhưng nhà
máy nào cũng "tội lỗi" vì dơ dáy, ô
nhiễm, phạm luật... họ sợ những ảnh này tới tay những nhà
tranh đấu môi sinh, hay tệ hơn nữa là tới tay AQMD, cơ sở
quản trị phẩm chất không khí, thì thật là
tai họa! Nhưng riêng tôi thấy nhà máy lọc dầu
cũng có những hình ảnh đẹp, tôi bỏ túi một
cái máy ảnh Rollei 35 SE, nhỏ bằng bao thuốc lá
nhưng có phẩm chất cao, đem vào thỉnh thoảng bấm
vài tấm. Chọn vài tấm đẹp và vô tội,
tôi phóng lên cỡ 8" x 10" rồi ghim lên
vách. Xếp tôi thấy ảnh khen đẹp và trao cho
tôi bộ máy ảnh Minolta Maxxum 7000 của hãng
và một lá thư chính thức chỉ định tôi
là "nhiếp ảnh gia đặc trách chụp đồ án Cogen"; từ
đó, ngoài công việc họa đồ, tôi còn
vác máy ra chụp "tiến độ thi công" công
tác xây cất để họ báo cáo hàng tuần,
hàng tháng... Có lá bùa trong tay,
tôi đem cả máy Rolleiflex TLR vào nhà
máy và thỉnh thoảng chụp được tấm khá đẹp (một tấm
sau này tôi được huy chương Bạc cuộc thi ảnh bên
Đức, tấm khác được Tổng hội Nhiếp ảnh Nghệ thuật Thế giới (FIAP)
chọn in trong sách ảnh "La Terre en 2000", tuyển tập ảnh quốc
tế, đánh dấu năm chót của thế kỷ thứ 20 và 50 năm
sinh hoạt nhiếp ảnh của FIAP).
Công việc làm tạm thời cho Chevron khá thoải
mái, cứ hai ba tuần, vào trưa thứ sáu, ban đồ
án lại đem chúng tôi ra đãi "tiểu yến" gồm
pizza và nước ngọt tại công viên Chevron gần
ngã tư El Segundo và Sepulveda.
Cuối năm 1987, khi việc xây cất nhà máy gần
hoàn tất, tôi đềà nghị làm cuốn lịch gồm 14
ảnh đen trắng về nhà máy Cogen. Xếp tôi
trình lên và ban giám đốc bật đèn
xanh liền. Tôi đem máy Rolleiflex TLR và chân
máy vào chụp hơn chục tấm ảnh tiêu biểu của
nhà máy. Tôi nghĩ nếu ngoài bìa
có tấm ảnh chụp từ máy bay xuống cho thấy tổng
quát công trình có lẽ oai hơn, bèn đề
nghị với xếp nữa, thế là hãng thuê máy bay
trực thăng bay vòng vòng trên nhà máy
cho tôi chụp từ trên cao xuống. Nhờ vậy, cuốn lịch
chính thức của Chevron về nhà máy phát điện
đầu tiên của hãng ở California được phát
hành vào ngày open house nhà máy,
tháng 1-1988. Có điều làm gấp gáp
quá, tôi quên đề năm 1988 ngoài bìa,
nhưng dù sao lịch cũng được in 5000 cuốn, phát cho tất cả
nhân công của nhà máy lọc dầu El Segundo,
phát hành sang tận Lake Charles, Texas, tận Hawaii, tận
Utah, tại San Ramon và tặng khách đến thăm nhà
máy v.v... và tôi có nhận được vài
cú điện thoại khen ngợi, trong đó có cô Di
Di cô kỹ sư chính và ông John Worley,
ông kỹ sư trưởng, khi này cả hai người đã được trả
về San Ramon. Ông giám đốc nhà máy lọc dầu,
một trong những VP của Chevron cho tôi một Sears gift certificate
200 $ và một thư khen ngợi.
Giáng sinh 87 và Tết dương lịch 1988, công
tác đồ án đã xong, hãng đóng cửa hai
tuần (dĩ nhiên là chuyên viên tạm thời như
chúng tôi không được ăn lương), vợ chồng tôi
đi Las Vegas mười ngày, không phải để đánh bạc,
mà ban ngày bà xã tôi theo tôi
đi chụp ảnh, ban tối, tôi theo bà xã tôi đi
xem shows.
Trong khi đó, tại El Segundo, chuyên viên start-up
chạy thử nhà máy. Theo lời kể lại, khi xếp lớn nào
đó nhấn nút khởi động nhà máy, máy
ngần ngại ịch ịch ịch ịch vài tiếng rồi nổ ròn rã,
chạy ngay... xếp lớn, xếp nhỏ, chuyên viên cao,
chuyên viên thấp đều vui vẻ. Bỗng nhiên 5 phút
sau, một cái valve bị nổ, do lỗi hãng cung cấp valve
chỉnh sai áp lực. Thiệt hại khoảng 40 ngàn. Lập tức thợ
ống sửa chữa ngày đêm, một valve khác được gửi ngay
bằng máy bay sang thay thế... Ngày 2-1-1988 lại start-up
và nhà máy chạy liên tục từ đó đến
nay không ngừng nghỉ.
Tuần lễ đầu năm, nhân viên phòng đồ án
chúng tôi đi làm lại, chưa biết việc khởi động
nhà máy ra sao... nhưng xếp lớn mời chúng
tôi vào phòng họp, đãi cà-phê,
đô-nắt, bắt tay cảm ơn từng người đã làm
gút-giốp, khiến ngay khi bấm nút khởi động, nhà
máy chạy như giấc mơ! Thứ sáu kế, chúng tôi
được đãi một bữa "trung yến" là sea food bake ở
công viên Chevron, đãi cả bia, sau đó chơi
soft ball cho đến khi mệt nhoài, rồi cho về nhà
luôn. Đây là việc chưa từng xẩy ra cho những
công nhân viên tạm thời của bất cứ hãng
nào, loại nhân viên không bổng lộc, luôn
luôn bị chèn ép, tị nạnh, rẻ rúng còn
hơn "con hoang của mẹ vợ thằng con rể": sea food bake vốn khá
đắt, cho uống bia và chơi banh trong giờ làm việc (!) hết
nửa ngày trời, mà lại còn được lãnh lương
đầy đủ là việc chưa từng xẩy ra tại bất cứ hãng đồ
án nào!
Khoảng giữa tháng 1-1988, ngày open house nhà
máy, có nghĩa là mọi người được mời vào xem
nhà máy một cách thoải mái, được giảng giải
này nọ, được đãi pi-za, đô-nắt, uống
cà-phê, nước ngọt, còn được tặng một ca uống nước
bằng sành in hình nhà máy, một mũ baseball
cap và một cuốn lịch Cogen do tôi thực hiện. Tôi
cũng dẫn vợ con vào xem công trình tim óc
của tôi. Vào dịp này, ban đồ án chúng
tôi, mỗi người được tặng một áo giắc-két có
thêu chữ "Chevron - El Segundo Cogeneration Plant, 1988"
và một Sears Gift Certificate trị giá 200 $.
Mấy ngày sau đó, ông giám đốc cho kêu
nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp vào chụp nhà máy
đã hoàn thành. Anh này khệnh khạng đem view
camera (máy có trùm mền), đèn đuốc, phụ
tá... vào chụp cả ngày, rửa mấy chục tấm ảnh cỡ 8"
x 10", gắn vào an-bom trông rất xôm (cái bill
chắc không rẻ). Nhưng ông giám đốc xem xong
thì nhăn mặt, hỏi ai chụp tiến độ thi công từ trước đến
nay ? Xếp tôi nói là một chuyên viên
làm việc trong phòng đồ án. Ông giám
đốc nói nhờ anh ta chụp lại toàn thể nhà
máy, xong gắn vào cho ông 20 cuốn an-bom.
Số là anh chuyên viên chụp rất đúng điệu,
dụng cụ tốt, nhưng anh ta không phải là người trong
nghành, không biết sự liên hệ của thành phần
này với thành phần nọ của nhà máy nên
ảnh của anh ta không nói được công dụng hay phận sự
của mỗi thành phần. Tôi mang hai cái Leica M4 với
flash cầm tay có hắt sáng, 12 cuộn phim 36 pô, chụp
bố cục có tiền, trung và hậu cảnh. Là người trong
ngành nên tôi biết liên hệ giữa các
thành phần trong nhà máy nên trình
bày lô-gíc hơn. Về hệ thống đèn điện thắp
sáng nhà máy (lần đầu tiên làm theo
luật Điện mới), tôi vào nhà máy lúc 4
giờ sáng, chụp nhà máy sáng choang
trên nền trời đen, với nhiều góc cạnh... ban ngày
chụp conduits và cable trays chạy như mắc cửi... Tôi
còn đem máy Hasselblad vào chụp mấy tấm ảnh
si-lu-ét nhà máy khi mặt trời lăïn, nền
mây đỏ rực... và mấy tấm khác khi mặt trời mọc, mặt
trời lớn, đỏ lừ như cái bánh xe trên hậu cảnh
còn mù sương sớm... Ông giám đốc
thích tấm nhà máy khi mặt trời lặn, đòi
phóng một tấm dài 6 feet, treo ngay trong phòng
làm việc của ông trên tòa nhà
chính. Ngày treo ảnh, ông cho mời tôi
lên xem tấm ảnh 6 phít, bắt tay cảm ơn khen tặng và
cho tôi một tấm plaque tuyên dương công trạng bằng
đồng thau và lại cái Sears Gift Certificate 200 $.
Hạ tuần tháng Giêng, ngày giải tán ban đồ
án, chúng tôi được đãi "đại yến" ở
nhà hàng The Proud Bird trên đường Aviation,
nhìn phi cơ lên xuống phi trường LAX, sau đó ra
sân nhà hàng chụp chung tấm hình kỷ niệm
trước khi về sở nhận giấy lây-óp đến ba phần tư ban đồ
án; số còn sống sót được giao cho làm
công tác râu ria của nhà máy Cogen,
gọi là off-plot. Tôi nằm trong số đó. Hai
tháng sau công tác này cũng hết, lại một
màn lây-óp. Tôi và một anh
Ca-na-điên sống sót, được chuyển lên toà
nhà chính làm cho đến giữa năm 1988.
Làm việc cho Chevron tôi còn được đi trực thăng hai
keo nữa: lần thứ nhất, ban Cứu hỏa thực tập cứu hỏa trên mặt biển
ngoài khơi El Segundo, tôi ngồi trên trực thăng từ
trên chụp xuống. Chiếc máy ảnh không người
lái Minolta Maxxum 7000 không lấy nét được
trên mặt biển bóng loáng nên cứ éo
éo chạy ra chạy vào, như "Vân Tiên
cõng mẹ chạy ra..." Tôi đã tiên đoán
vụ này nên thủ hai chiếc Leica M nên lấy ra chụp,
mọi chuyện tốt đẹp. Lần thứ hai, hãng muốn tôi chụp
các ống phun gaz trong cái flare (như trên
đã đề cập, đây là các "ống khói" cao
nhất nhà máy, dùng để đốt khí ô nhiễm
trong nhà máy), cao khoảng 140 feet. Trực thăng bay
vòng vòng quanh cái flare, tôi dùng
máy Minolta Maxxum 7000 của hãng, ống kính zoom
80-200 mm từ trực thăng chụp ra, nhưng không thấy rõ
phía trong. Tôi nói phi công bay lại gần
flare hơn, anh ta nói luật an toàn không cho anh ta
bay gần hơn 60 feet. Lần chụp này không thành
công. Hãng bèn nghĩ ra cách khác: đem
một chiếc cần trục Manitowoc có cần chính dài 128
feet, thêm một cần phụ 28 feet, tổng cộng 156 feet, treo một
cái giỏ sắt, giống như cái bàn vuông lật
ngược, có lan can sắt chung quanh. Tôi đứng trong
đó, nai nịt chỉnh tề, có thêm dây chằng
(safety hardness) móc vào cần trục, từ từ kéo
cái giỏ lên tới khoảng 150 feet, rồi theo dấu tay của
tôi, di chuyển cái giỏ trong đó có
tôi, vòng quanh miệng flare để tôi chụp vào
phía trong. Từ trên cao 150 feet nhìn xuống,
cái xe cần trục nhỏ như đốt ngón tay út
phía dưới, gió biển thổi cái giỏ sắt đong đưa qua
lại, tôi có cái cảm tưởng cái cần trục
có thể lật gọng bất cứ lúc nào... Nếu nó
lật... Tôi không muốn nghĩ tiếp.
Công việc ngày càng cạn, tôi biết ngày
lây-óp cũng cận kề. Một hôm xếp Tom gọi tôi
"Mây-ai xi-iu", vào phòng, đóng cửa lại, bảo
tôi:
- Tôi chỉ còn việc cho anh khoảng hai, ba tuần nữa
mà thôi. Anh nên tiếp xúc bạn bè xem
họ có việc gì cho anh không. Anh làm
gút-giốp, ai cũng hài lòng. Sau này, khi
nào anh thất nghiệp cứ kêu tôi; nếu tôi
có việc, anh sẽ oeo-căm trở lại!
Xếp còn cho tôi một danh sách job shop dài.
Tôi cảm ơn xếp và thơ thới hân hoan ra kêu
điện thoại cho từng shop một... Tuần sau tôi tìm được
việc, làm cho The Parsons Company ở thành phố Pasadena.
Ngày báo tin cho xếp, xếp bắt tay chúc mừng,
còn bằng lòng cho tôi nghỉ sớm để đi làm sở
mới, lương cao hơn. Xếp còn đem tôi ra nhà
hàng Rafael's trước sở, pha-rờ oeo, đãi tôi một
bụng Chi-mi-chăng-ga!
Sau này tôi còn quay lại làm việc trong
nhà máy lọc dầu này hai lần nữa, một lần
chín tháng, một lần một năm rưỡi. Nhưng đó lại
là hai chuyện phiêu lưu ký khác.