Du lịch Montreal

Trịnh Hảo Tâm

Montréal, thành phố Pháp trên đất Canada

Montréal là thành phố lớn thứ nhì Canada nằm trong tỉnh bang Québec là nơi tiếng Pháp được dùng làm ngôn ngữ chính. Ngày xưa Montréal có tên là Ville Marie (Thành phố Ðức Bà Maria) và hiện tên Montréal lấy từ tên của ngọn đồi Mont Réal nằm ngay tại trung tâm thành phố. Mont Réal là tiếng Pháp thời Trung Cổ có nghĩa là Mont Royal trong tiếng Pháp ngày nay. Thành phố tọa lạc trên một hòn đảo nằm trên con sông St. Lawrence (tiếng Pháp là St. Laurent) đưa nước từ hồ Ontario ra biển Ðại Tây Dương, dân số theo thống kê năm 2006 có 1,620,693 người và kể cả vùng ngoại ô là 3,635,571 người. Nằm trong một nước trước kia là thuộc địa của Ðế Quốc Anh nhưng dân chúng Montréal 57% lại nói tiếng Pháp và tiếng Anh chỉ có 19%.

Giã từ Toronto chúng tôi theo hai đứa cháu gọi bằng cậu ngày xưa cùng chung ghe vượt biển với tôi đi Montréal cách Toronto 337 miles về hướng Ðông Bắc. Ở Montréal tôi cũng có vài người bà con như gia đình người chị cô cậu có hai thằng con cùng đi với tôi trong chuyến vượt biển Tháng Mười Hai, năm 1978. Sau khi thuyền chúng tôi đến bến bờ tự do ở Thái Lan, hai cháu này đi Canada định cư sau đó bảo lãnh cha mẹ sang. Hơn 30 năm bận công ăn việc làm chúng tôi chưa hề gặp nhau. Từ Toronto chúng tôi dùng xa lộ 401 lúc đầu cập theo hồ Ontario, sau đó hết hồ thì cập theo dòng sông Lawrence, con đường thiên lý xa diệu vợi qua rất nhiều thành phố, hỏi người ta đường đi thế nào thì họ nói cứ đi thì chiều thế nào cũng tới Montréal. Buổi trưa khi cậu cháu chúng tôi đi hết hồ Ontario dừng lại ở thành phố Kingston ăn trưa, cà phê cà pháo nghỉ một chút rồi lại tiếp tục con đường cái quan. Chúng tôi đi ngang qua ngả rẽ xa lộ 416 con đường để đi lên thủ đô Ottawa của xứ Canada, nơi thằng em trai tôi hiện ở Toronto hồi mấy năm đầu định cư có ở tại Ottawa này. Sau đó gia đình bên vợ và thằng em tôi cùng dọn về Toronto để mở tiệm vàng trong khu phố Tàu, riêng em tôi đi làm và vợ mở cửa hàng hoa cho đến ngày nay.

Sáu giờ chiều vẫn cập theo sông Lawrence khi đi hết phần đất tỉnh Ontario vừa sang tỉnh Québec xa lộ 401 đổi thành 20 đụng phải con sông Ottawa từ bên trong Ottawa chảy ra để nhập dòng vào sông Lawrence. Vùng này toàn sông hồ đầm ao, cây cối rất đẹp nhưng không thấy nhà cửa, chắc là sợ lũ lụt. Vừa qua cầu bắc ngang sông Ottawa thì chạm vùng ngoại ô nhà cửa đông đúc của Montréal, tôi mới biết Montréal nằm nơi giao nhau giữa hai con sông. Bảng hiệu giao thông đường sá đều bằng tiếng Pháp, hai thằng cháu tôi vốn ở Connecticut xứ Mỹ hơi lo vì không biết tiếng Pháp, chúng nó nói sợ khi đói không biết làm sao gọi món ăn? Hai đứa hỏi tôi còn nhớ tiếng Pháp không? Ngày xưa tôi có học tiếng Pháp nhưng tiếng Pháp giống cái giống đực, chia động từ rắc rối quá nên khi thực dân Pháp rút về nước tôi trả lại cho họ và chuyển sang học tiếng Anh. Vốn liếng tiếng Pháp đong đưa như vậy nhưng khi hai thằng cháu hỏi, tôi làm bộ ngâm câu: “Nị hảo, mẹt xì đây thuộc cả. Không sang Tàu tớ cũng qua Tây!” để trấn an hai đứa.

Tiếng Pháp vùng Québec

Rẽ ra xa lộ vào thành phố Montréal, đường sá nho nhỏ nhiều bảng hiệu lưu thông viết toàn tiếng Pháp mà ngoài xa lộ không thấy. Có bảng màu đỏ đề “Arrêt”, thằng cháu lái xe hoang mang hỏi: “Cậu ba, bảng này nói cái gì vậy?” Tôi cũng không biết, thấy giống chữ “Arrest” trong tiếng Anh có nghĩa là bị bắt giữ mà lại màu đỏ, tôi kêu nó thắng lại. Thấy bên đường đối diện cũng bảng này xe dừng lại 10 giây rồi lại chạy tiếp. Tôi mới biết là bảng “Stop”! Lạ thật tôi từng qua bên Pháp, họ vẫn đề chữ “Stop” giống như bên Mỹ, còn ở Toronto hay ngoài xa lộ tỉnh Ontario bảng lưu thông vẫn như bên Mỹ, nếu đề chữ thì bằng hai thứ tiếng. Còn ở tỉnh Québec này bảng “Stop” lại đề là “Arrêt” và còn vài bảng hiệu nữa đến giờ tôi cũng không hiểu nghĩa là gì?

Ngày xưa tìm ra vùng Montréal là người Pháp dưới thời vua Francis I vào khoảng năm 1500, sau đó người Pháp di dân sang, đến năm 1760 họ đầu hàng người Anh và nước Anh chiếm làm thuộc địa. Do đó đa số dân chúng ở đây có tổ tiên là người Pháp nên họ nói tiếng Pháp. Montréal là thành phố lớn duy nhất trên lục địa Bắc Mỹ nói tiếng Pháp, so với cả thế giới là thành phố đông dân nói tiếng Pháp chỉ sau Paris mà thôi. Có đến 6.7 triệu người Canada nói tiếng Pháp phần đông sống trong tỉnh Québec với hai thành phố lớn là Québec và Montréal. Ngoài tỉnh Québec còn khoảng 1 triệu người nói tiếng Pháp ở các tỉnh bang Manitoba, New Brunswick, Alberta, Nova Scotia và Saskatchewan. Tiếng Pháp người dân Québec nói có chút ít khác với tiếng Pháp hiện nay ở Paris vì tiếng Québec là tiếng Pháp vào thế kỷ 17, 18 trong khi tiếng Paris du nhập nhiều tiếng Anh thông dụng trở thành tiếng quốc tế. Thí dụ như chữ “cuối tuần”, người Paris nói là “week-end” thì người Québec vẫn dùng “fin de semaine”, Paris dùng chữ “e-mail” thì Québec dùng chữ “courriel”, chữ “thức uống” người Paris nói là “boisson” trong khi người Québec là “breuvage”, “ăn tối” Paris nói là “diner” ở Québec là “souper”.

Thành phố Montréal

Thành phố Montréal nằm trên một đảo hình trái lê chiều dài khoảng 31 miles (50 km) và ngang khoảng 10 miles (16 km), khu trung tâm tức phố cổ nằm cạnh bờ sông Lawrence về hướng Ðông. Nơi đây có bến cảng, tòa thị chính, nhà thờ Ðức Bà, khu phố Tàu. Qua bên kia sông để đi về hướng Ðông có 4 cầu xe hơi, 2 cầu xe điện, 1 đường xe điện ngầm Métro và một đường hầm xe hơi dưới lòng sông. Ở hướng Tây là sông Prairies nhỏ hơn sông Lawrence cũng có 6 chiếc cầu bắc ngang để đi qua khu ngoại ô là Laval. Phía bên trong giữa đảo là dãy đồi Mont Royal hiện là công viên thành phố, dưới chân đồi hướng Ðông là khu tài chính, ngân hàng với vài chục cao ốc chọc trời giống như ở Toronto. Phi trường quốc tế Montréal là Pierre Elliot Trudeau Airport ở về hướng Nam cuối đảo rất gần thành phố. Ðường sá trong thành phố nhỏ hẹp hơn các thành phố bên Mỹ, xe cộ cũng ít hơn, phố xá nhà cửa có nét giống Âu Châu nhất là những dãy phố lầu liên tục sát vách nhau. Nhà cửa dân ở thường là các chung cư nhiều tầng lầu và rất ít nhà riêng với sân trước, vườn sau như ở Mỹ. Ít bãi đậu xe nên thường xe hơi đậu dọc theo hai bên đường, lưu thông trên phố có xe đạp, xe gắn máy như ở Âu Châu. Montréal không cho rẽ phải khi đèn đỏ, lại ít cho quẹo trái ở các ngã tư, đến ngã tư nào cho rẽ phải hay trái đều có bảng vẽ màu xanh.

Về lưu thông công cộng khá tiện dụng cho người dân, Montréal có hệ thống xe buýt, xe điện ngầm, cả 2 hệ thống của hãng Société de transport de Montréal (STM). Hệ thống xe buýt STM có 165 tuyến đường ban ngày và 20 tuyến đường ban đêm. Hệ thống xe điện ngầm (Métro) khánh thành năm 1966 hiện nay có 4 tuyến đường với 68 nhà ga, mỗi nhà ga cách thiết kế, nghệ thuật trang trí khác nhau và xe chạy bằng bánh cao su rất êm ái không gây ồn ào. Người sáng kiến dự án này là thị trưởng Jean Drapeau sau đó đã có công vận động để Montréal được tổ chức Thế Vận Mùa Hè 1976. Hệ thống xe điện ngầm chạy đến tận bờ phía Nam ở Longueuil, phía Bắc đến thành phố ngoại ô là Laval với 3 nhà ga mới thành lập. Ngoài ra trong thành phố còn có hệ thống xe điện chạy trên mặt đất là Commuter Rail nối khắp các vùng ngoại ô với hơn 15.7 triệu hành khách sử dụng trong năm 2007 chỉ đứng thứ 6 ở Bắc Mỹ sau các thành phố New York, Chicago, Boston, Philadelphia và Toronto mà thôi.

Lịch sử Montréal

Nhiều vật dụng các nhà khảo cổ đào lên được cho thấy nhiều bộ lạc du mục đã sống trên đảo ít nhất 2,000 năm trước khi người Âu Châu đến. Người Iroquoians đã tạo dựng làng Hochelaga dưới chân núi Royal. Ngày 2 Tháng Mười, 1535, nhà thám hiểm người Pháp tên Jacques Cartier đến viếng làng Hochelaga và tuyên bố vùng thung lũng St. Lawrence này thuộc về nước Pháp. Ông ta ước lượng dân số ở đây hơn 1 ngàn người. Bảy mươi năm sau nhà thám hiểm người Pháp khác tên Samuel de Champlain báo cáo rằng thổ dân trước kia sống ở đây nay không thấy nữa có lẽ vì chiến tranh giữa các bộ lạc hay vì bịnh dịch di chuyển sinh sống nơi khác. Champlain lập trạm trao đổi da thú với thổ dân trên đảo Montréal vào năm 1611 gọi nơi đây là La Palace Royale, địa điểm ngày nay là Pointe-à-Callière. Năm 1639 Jérôme Le Royer de La Dauversière nhận chức Ðức Ông đến đảo Montréal để thành lập một nhà truyền giáo cho dân bản xứ đồng thời Paul Chomedey de Maisonneuve được bổ nhiệm làm thống đốc thuộc địa này. Ville-Marie trở thành trung tâm trao đổi hàng hóa lấy da thú cũng là trạm căn cứ để người Pháp khám phá thêm vùng Bắc Mỹ và là thuộc địa của nước Pháp cho đến năm 1760, Hầu Tước Pierre Francois de Rigaud đầu hàng và giao Ville-Marie cho người Anh.

Montréal được thành lập thành phố vào năm 1832. Người ta đào kinh Lachine Canal để tàu thuyền lưu thông tạm thời trong lúc ngăn khúc sông St. Lawrence lại để xây cầu Victoria trong kế hoạch biến Montréal thành một mạng lưới đường sắt cho xe hỏa. Ðến năm 1860 Montréal là thành phố lớn nhất trong thuộc địa Anh vùng Bắc Mỹ và là thủ đô của tỉnh Canada từ năm 1844 đến năm 1849. Sau Ðệ Nhất Thế Chiến với luật cấm buôn bán rượu ở Hoa Kỳ khiến Montréal trở thành thiên đàng của dân Mỹ nghiện rượu. Tới thời kỳ kinh tế khủng hoảng năm 1929 thành phố bị ảnh hưởng nặng nề với số người thất nghiệp lên cao. Trong thời gian Thế Chiến Thứ Hai, Thị Trưởng Camillien Houde chống lại luật thi hành quân dịch, ông hô hào dân chúng không đăng ký quân dịch theo luật chính quyền liên bang và ông bị bắt đi tù cho đến năm 1944 mới được thả ra và được bầu chức thị trưởng trở lại lần nữa. Năm 1951 dân số thành phố vượt quá 1 triệu người, thủy trình Saint Lawrence Seaway mở cửa năm 1959 cho phép các tàu biển lớn lưu thông ngang qua Montréal để ra biển đi các nước khác. Trong thập niên 1960 thành phố tổ chức hội chợ quốc tế Expo 1967 cũng như xây các cao ốc chọc trời, xa lộ mới và hệ thống xe điện ngầm. 1976 Montréal tổ chức thành công Thế Vận Hội Mùa Hè. Thập niên 1980 và đầu 1990 kinh tế Montréal tăng trưởng chậm hơn các thành phố khác của Canada nhưng những năm sau đó tình hình kinh tế cải thiện, các hãng xưởng, công ty tập trung về. Năm 2002 với câu “Một đảo, một thành phố” Montréal mở rộng việc thống nhất trở thành 27 quận (boroughs) và bao trùm hết đảo nhưng sau đó dân chúng một số quận không chịu sáp nhập (13% dân số) nhất là dân nói tiếng Anh. Ðến ngày 1 Tháng Giêng 2006, thành phố Montréal chỉ còn 19 quận còn 14 quận kia trả lại tự trị như cũ không thuộc vào Montréal nữa.

Chúng tôi đi tìm nhà người chị cô cậu cũng khá vất vả vì trời lất phất tuyết rơi mặc dù chỉ mới giữa Tháng Mười. Loanh quanh một lúc cũng tìm được trong một khu Condo nhà dính liền vách với nhau. Hai vợ chồng chị cô cậu ở một căn, gia đình hai đứa con trai ở hai căn cũng trong khu đó. Từ 1979 đến nay đã hơn 30 năm chúng tôi mới gặp nhau, người chị bà con đã 75 và bị bệnh lãng trí Alzheimer nên cũng không nhớ tôi là ai? Ông chồng và hai thằng con cùng cậu cháu chúng tôi ngồi hàn huyên ôn lại chuyện xưa rất vui vẻ. Sau khi dùng cơm tối với nhau chúng tôi tạm chia tay để về khách sạn trong khu phố cổ Montréal và hẹn gặp lại ngày hôm sau. Theo hai cháu ở Montréal cho biết trước 1975, người Việt ở Montréal chỉ độ 100 người đa số là sinh viên du học. Sau đó nhất là trong khoảng thời gian từ 1975 đến 1985 Montréal tiếp nhận thuyền nhân tỵ nạn từ các trại Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Hồng Kông v.v... Hiện nay cộng đồng Canada gốc Việt tại Montréal ước tính khoảng 20,000 người hội nhập thành công với người bản xứ và cũng thành lập nhiều hội đoàn văn hóa, tôn giáo sinh hoạt rất đều đặn. Montréal cũng có khu phố Hoa Việt nằm trên đường Boulevard Saint Laurent, mặc dù nhỏ không so sánh được với Toronto nhưng cũng có nhiều tiệm phở, bánh mì, cà phê tạm sưởi ấm lòng người ly hương.

<>
        Thành phố trong lòng đất ở Montréal

Hơn một thế kỷ rưỡi Montréal là trung tâm kỹ nghệ và tài chánh của Canada. Những kiến trúc đa dạng bao gồm hãng xưởng, kho hàng, nhà máy xay lúa mì, xưởng lọc dầu vẫn còn tồn tại trong tình trạng nguyên thủy cho đến ngày nay khiến cho thành phố còn rất nhiều di tích lịch sử, kiến trúc cổ nhất là ở khu trung tâm thành phố và khu bến tàu cũ. Những tòa nhà với kiểu cách Âu Châu trong khu phố cổ gồm có: Vương Cung Thánh Ðường Ðức Bà (Notre Dame de Montréal Basilica) xây năm 1672, chợ Bonsecours mở năm 1847, những tòa nhà ngân hàng vào thế kỷ 19 trên con đường St. James là những kiến trúc làm chùng lòng du khách hoài cổ mỗi khi ghé thăm Montréal. Những ai muốn thưởng ngoạn thiên nhiên có thể trèo lên đồi Mont Royal xem hoa nở và nhìn xuống thành phố rực rỡ ánh đèn khi hoàng hôn buông xuống. Nhưng gây ấn tượng nhiều nhất cho du khách đến viếng Montréal vào mùa Ðông băng giá là Thành Phố Trong Lòng Ðất (Underground City) có tên là RÉSO ở khu trung tâm và là quần thể xây cất ngầm dưới mặt đất rộng lớn nhất thế giới từ trước đến nay.

Thành phố ngầm RÉSO

Montréal Underground City tên chính thức là Réso hay tiếng Pháp còn gọi là La Ville Souterraine là tập hợp liên kết những chợ búa, nhà cửa với nhau vừa xây ngầm trong lòng đất vừa xây trên mặt đất. Với hệ thống đường hầm (tunnels) chiều dài hơn 32 km (20 miles) với tổng diện tích 12 km vuông (4.6 sq mi) kết nối với nhau những khu thương xá, chung cư, khách sạn, ngân hàng, trường đại học và 7 ga xe điện ngầm, 2 trạm xe điện mặt đất cũng như khu hội trường Bell Centre. Có tất cả 120 cửa ngõ để xuống thành phố ngầm, mỗi nơi khi vào đều có phố xá buôn bán, văn phòng dịch vụ, nhà băng, cửa hàng ăn uống thật tưng bừng náo nhiệt như một thành phố. Vào mùa Ðông mỗi ngày có hơn 500 ngàn người mua sắm ăn uống ở thành phố ngầm dưới đất nên người ta thường nhìn Montréal như thành phố có hai tầng hay “Hai thành phố trong một.”

Ý tưởng thành lập thành phố ngầm là do nhà thiết kế đô thị Vincent Ponte nảy sinh khi xây cao ốc văn phòng Place Ville-Marie và thương xá ngầm phía dưới vào năm 1962 để che những đường sắt ở phía Bắc nhà ga trung ương Central Station. Ðầu tiên người ta xây đường hầm nối Central Station và khách sạn Queen Elizabeth Hotel. Năm 1966 khi xây dựng hệ thống xe điện ngầm người ta đã thiết lập thêm những đường hầm nối từ nhà ga Bonaventure đến Château Champlain Hotel, cao ốc Place du Canada, Place Bonaventure, Central Station và Windsor Station. Những đường hầm rộng lớn này là khu đầu tiên thành hình thành phố ngầm sau này. Từ 1984 đến 1992 thêm hàng chục cao ốc mới xây khác cũng nối đường ngầm vào những trạm xe điện trong lòng đất nhất là vào cuối thập niên 1990 những công trình xây dựng đồ sộ như tòa nhà chọc trời cao nhất Montréal Le 1000 De La Gauchetière, Le 1250 René-Lévesque và Montréal World Trade Centre càng bành trướng thành phố ngầm thêm rộng ra.

Tên của thành phố ngầm là “RÉSO” đồng âm với chữ “Réseau” trong tiếng Pháp có nghĩa là “mạng lưới” (network) ở đây có nghĩa là “mạng lưới đường hầm”. Bảng hiệu RÉSO với chữ O sau cùng có mũi tên chỉ xuống màu xanh được treo ở các nhà ga xe điện ngầm để hành khách có thể đến đó mua sắm, ăn uống. Trong những tháng mùa Ðông thời tiết giá lạnh bên ngoài toàn là tuyết trắng, người dân Montréal khi sử dụng hệ thống xe điện ngầm thường đi chợ búa, dịch vụ trong thành phố dưới mặt đất rất tiện lợi và ấm áp. Hầu hết những cửa hàng dưới thành phố ngầm đều mở cửa đón khách trong giờ hệ thống xe điện ngầm còn hoạt động (từ 5:30 sáng đến 1 giờ sáng) trong khi những hiệu buôn trên mặt đất đã đóng cửa. Thành phố dưới mặt đất ở Montréal là địa điểm du lịch mà du khách phải thăm viếng mỗi khi đến Montréal và nó được quảng cáo trong hầu hết các quyển cẩm nang du lịch. Dưới thành phố ngầm đều có bảng chỉ dẫn cũng như bản đồ để du khách biết mình ở vị trí nào trong thành phố và ga xe điện nào gần nhất để trở về khách sạn.

Hệ thống xe điện ngầm métro ở Montréal

Mùa Ðông lái xe ở Montréal không dễ dàng nên người dân ở đây ít ai lái xe riêng như ở California mà hầu hết đều sử dụng các phương tiện chuyên chở công cộng như xe điện ngầm, xe điện trên mặt đất và lộ trình ngắn thì đi xe buýt. Mua sắm trong lòng đất thì người Montréal cũng di chuyển trong lòng đất với hệ thống xe điện ngầm Métro rất mau chóng và tiện dụng, không gây ô nhiễm lại rẻ tiền. Hệ thống Montréal Métro được điều hành bởi hãng Société de transport de Montréal (STM) được khánh thành vào ngày 14 Tháng Mười, 1966, dưới nhiệm kỳ thị trưởng của ông Jean Drapeau. Thời gian đầu hệ thống chỉ có 26 nhà ga nằm trên 3 tuyến đường riêng biệt, ngày nay hệ thống có 68 nhà ga với 4 tuyến đường nối nhau chiều dài tổng cộng 65.33 km (40.59 miles) phục vụ các vùng phía Bắc, Ðông và trung tâm của đảo Montréal nối với thành phố Longueuil (phía Ðông) bằng tuyến màu vàng và nối với thành phố Lava (phía Bắc) bằng tuyến màu cam. Còn hai tuyến màu lục và xanh lá cây nối ngang hai tuyến trên. Nhà ga trung ương tên Berri-Uqam ở trung tâm phố cổ nối 3 tuyến màu xanh, cam và vàng với nhau. Hệ thống xe điện ngầm Montréal có chiều dài thứ ba và số hành khách sử dụng đứng thứ nhì ở Canada, trong năm 2008 có 382.5 triệu người sử dụng. Nếu tính từ ngày khánh thành đến năm 2006 là 40 năm số người sử dụng là 6 tỷ người tương đương với dân số toàn cầu hiện nay. Các nhà ga xe điện ngầm ở Montréal thiết kế, trang trí rất đẹp mắt bắt chước theo kiểu hệ thống Métro ở Paris, Lyon và Marseille (3 thành phố lớn nhất nước Pháp). Vài năm sau hệ thống Métro ở Mexixo City cũng bắt chước tương tự và tất cả đều sử dụng toa xe chạy bằng bánh cao su rất nhẹ nhàng, êm ái.

Ðường Crésent phố du khách

Sau khi từ giã gia đình người chị cô cậu, chúng tôi lái xe đến đường Crésent St. thuộc khu trung tâm thành phố vì đã đặt phòng ở khách sạn Quality Inn. Tôi chọn khu phố này là vì theo báo chí du lịch con đường Crésent rất đông du khách từ Mỹ sang cư ngụ nơi đây. Ðây là con đường một chiều chỉ đi từ hướng Tây Bắc sang Ðông Nam, đường hẹp hai bên phố xá rất đông người Mỹ, tôi thấy có Starbucks Coffee, California Pizza và nhiều nhà hàng khác. Ban đêm cũng nhộn nhịp đông vui với nhiều quán rượu, cà phê trông rất ấm cúng và an ninh. Nói chung ở Montréal khu phố nào cũng an toàn vì tội ác rất thấp ở đây ngay cả khu phố trên đường St. Laurent Blvd. có khu chợ Tàu, ở khúc phía Bắc là khu sinh hoạt về đêm với nhiều nhà hàng, quán bar, hộp đêm (night clubs) cũng rất an ninh. Theo người dân ở tại Montréal họ chỉ hơi ngán con đường Ste. Cathérine St. khúc từ St. Laurent lên hướng Bắc tới khu Latin và tránh đi ngang qua đây vào ban đêm.

Sáng hôm sau hai đứa cháu con bà chị đến khách sạn chúng tôi ngụ cũng bằng hệ thống Métro và muốn đưa đi thăm các thắng cảnh, di tích cổ của Montréal. Khách sạn ở về hướng Ðông không mấy xa đồi Mount Royal nên địa điểm đầu tiên chúng tôi đi là lên đồi Mount Royal trong buổi sáng tinh mơ khi không khí còn rất trong lành.

Mount Royal Park

Ðồi Mount Royal hiện nay trở thành công viên Mount Royal Park được khánh thành từ năm 1876 thiết kế bởi Frederick Law Olmsted cũng là người thiết kế công viên Central Park ở New York. Công viên có nhiều cây cối, ao hồ, bãi cỏ là khoảng xanh lớn nhất ngay trung tâm thành phố. Ðồi Mount Royal gồm có 3 ngọn núi cao nhất là 233 m (764 ft), người Âu lên đây đầu tiên vào năm 1643 là Paul Chomedey de Maisonneuve cũng là người sáng lập thành phố Montréal. Ông ta là quân nhân người Pháp theo phái bộ truyền giáo đến Montréal và được xem là thị trưởng đầu tiên của thành phố. Ông xây đồn lũy vì bị thổ dân tấn công và nhiều lần suýt chết vì bị vây hãm. Khi bị trận lụt lớn ông cầu khấn cùng Ðức Bà Marie và để tạ ơn ông đã dựng một cây thánh giá trên núi. Năm 1924 một thánh giá lớn cao 103 ft (31.4 m) được thắp đèn thay thế cây thánh giá cũ. Năm 1992 đèn thắp sáng được thay bằng đèn “fibre optic” thay đổi các màu đỏ, lục và tím, màu tím chỉ được thắp khi đau buồn tang chế như khi Ðức Giáo Hoàng John Paul II băng hà vào Tháng Tư 2005. Ngày nay trên đồi có hai tòa nhà ngắm cảnh để ban đêm du khách lên đó nhìn xuống thành phố với những cao ốc rực rỡ ánh đèn. Một hồ nước tên Beaver Lake được đào với vườn tượng điêu khắc bên cạnh, mùa Ðông có đồi dốc để chơi trượt tuyết. Công viên được dân chúng thích lên ngắm cảnh thành phố phía dưới, đi bộ (hiking), picnic ăn uống vào mùa Hè và các cuộc chạy đua hoặc lễ hội văn hóa cũng thường tổ chức trên công viên như lễ hội vỗ trống “Tam Tam Jam” gồm hàng chục tay trống cùng đánh một lúc rất tưng bừng vui nhộn.

Trên đồi Mount Royal còn có hai nghĩa trang lớn dành chôn cất dân chúng thành phố từ thế kỷ 19: nghĩa trang Mount Royal Cemetery (thành lập năm 1852) rộng 165 acres ở triền phía Bắc ngọn đồi và nghĩa trang Notre Dame des Neiges Cemetery rộng lớn hơn (thành lập năm 1854) để chôn dân Pháp theo đạo Thiên Chúa Giáo La Mã. Có hơn 900 ngàn người được chôn trong 2 nghĩa địa này. Mount Royal Cemetery có 162 ngàn ngôi mộ là nơi an nghỉ của rất nhiều danh gia vọng tộc kể cả những cựu chiến binh từng được nhiều huy chương cao quý của triều đình Anh Quốc như huy chương Victoria Cross. Trong khu đồi công viên cây xanh Mount Royal Park nằm ở phía Ðông còn khu mộ phần của hai nghĩa trang nằm về phía Tây.

Trên núi rất nhiều đường chằng chịt, nhiều nơi rất dốc và nhỏ hẹp, trơn trợt dễ té ngã nhất là khi xuống đồi. Có nhiều đường để xuống núi và thỉnh thoảng có những bản đồ để du khách không bị lạc. Tuy nhiên rất ít quán xá bán nước uống nên tốt nhất là mua từ dưới phố mang lên. Chúng tôi từ từ vừa đi vừa hàn huyên vui đùa nên không thấy mệt. Từ đỉnh đồi nhìn xuống hướng Ðông, cao ốc phía dưới và xa xa là sông Saint Lawrence mặt nước phẳng lặng với nhiều con tàu đậu ở bến sông. Hôm nay chúng tôi lên núi vào buổi sáng cốt ý là chụp hình thành phố nằm phía dưới chứ đến vào ban đêm cảnh thành phố với nhiều cao ốc thắp muôn vạn ánh đèn rất lung linh huyền ảo, nhìn đẹp hơn ban ngày nhưng chụp ảnh thì hơi khó nếu trời không quang đãng và cần máy ảnh to và đắt tiền trong khi tôi thì di chuyển nhiều cần máy gọn nhẹ.

Ở cuối phía Tây Nam Mount Royal có nhà thờ Saint Josepth Ovatory địa chỉ số 3800 trên đường Queen Mary Road là một kiến trúc rất đẹp với vòm mái tròn bằng đồng to lớn được xây năm 1924. Nhà thờ nằm trên đồi có bậc thang lên dốc giống như nhà thờ Thánh Tâm (Montmartre) ở Paris. Hàng ngày tín đồ hành hương đến đây rất đông cầu nguyện để được chữa lành bệnh vì dưới nhà thờ có an táng xác sư huynh André . Ông sinh năm 1845 là một tu sĩ hớt tóc lấy tiền để xây một nhà nguyện bằng gỗ và nổi tiếng chữa được lành cho rất đông người. Năm 1911 Giáo Hội La Mã có đề cử một hội đồng để điều tra việc chữa bệnh của ông. Kết quả hội đồng cho phép tín đồ tiếp tục đến hành hương nhưng không có ý kiến về các phép lạ. Sư huynh André tiếp tục chữa bệnh cho đến khi qua đời năm 1937 và được chôn trong hầm dưới nhà thờ. Trên bãi cỏ, bậc thang trước nhà thờ lúc nào cũng đông tín đồ hành hương và du khách đến viếng thăm.

Thăm phố cổ Montréal

Ðến thành phố Montréal của xứ Canada, tuy nằm trên lục địa Mỹ Châu nhưng du khách có cảm giác như lạc vào một thành phố nào đó trên đất Pháp. Những con đường lát đá tảng vuông quanh co, nhỏ hẹp, những ngôi giáo đường tường vàng, ngói đỏ phủ rêu xanh và những góc phố nhà cửa liền nhau, bảng hiệu viết bằng tiếng Pháp và nhất là những quán cà phê vỉa hè có những phụ nữ, điếu thuốc lá hờ hững trên tay ngồi nhìn dòng đời trôi lặng lẽ...

Phố cổ Ville Marie

Cậu cháu chúng tôi từ trên đồi Mont Royal thả bộ xuống bằng con đường Avenue Du Parc đi về hướng Ðông để vào khu phố Montréal ngày xưa thời kỳ còn thuộc Pháp được gọi là Ville Marie. Ville Marie là khu phố cổ ngày nay còn lưu lại rất nhiều kiến trúc Pháp thuộc thế kỷ 18, 19 như nhà thờ, ngân hàng, chợ búa, khách sạn... Càng đi về hướng bờ sông các kiến trúc càng mang đậm nét cổ xưa và chen lẫn trong đó có những tòa nhà cao tầng mới xây trong những năm sau này. Khi một tòa nhà cũ hư hại vì thời gian, hội đồng thành phố bao giờ cũng muốn sửa chữa giữ lại hình dáng nguyên thủy và nếu bắt buộc phải xây lại cũng chọn kiểu dáng cổ hợp với các kiến trúc xung quanh. Nhưng khó khăn là vấn đề “mặt bằng” làm sao có nhiều diện tích cho các văn phòng, cho các bãi đậu xe vì ngày xưa di chuyển bằng xe ngựa chưa thấy được nhu cầu bãi đậu. Vì vậy khi phá đi một kiến trúc cổ hư hại, trước đây người ta thường xây cao ốc và bãi hoặc nhà đậu xe.

Ville Marie hay dân địa phương gọi là “Vieux Montréal” (Montréal cổ) ngày xưa chỉ nằm dọc theo bờ sông St. Lawrence, ngày nay là một quận nằm giữa Mont Royal và giang cảng cũ của sông St. Lawrence được tuyên dương công nhận là khu di tích lịch sử vào năm 1964 bởi Bộ Văn Hóa Tỉnh Bang Québec. Ngược dòng thời gian vào năm 1605 nơi đây thương gia người Pháp Samuel de Champlain lập kho hàng chứa da thú đổi với thổ dân để đem về Pháp làm áo lông. Ðến năm 1641 sĩ quan Pháp Paul Chomedey de Maisonneuve theo phái bộ truyền giáo dòng Jesuit đến Montréal sau một chuyến vượt biển gian nan vất vả. Năm 1643 ông ta xây đồn lũy và được bình an sau trận lụt lớn, để tạ ơn ông là người dựng cây thánh giá đầu tiên trên núi Mont Royal. Ðến vùng đất mới, các nhà truyền giáo ngoài việc truyền đạo còn giúp thổ dân biết cách chăn nuôi, trồng trọt để có đời sống khá hơn và có thể chung sống hòa bình với họ. Nhưng giấc mộng kia bất thành, năm 1644 ông Maisonneuve bị thổ dân bộ lạc Iroquois tấn công suýt mất mạng trong một lần nhóm ông 30 người bị hơn 200 thổ dân vây khốn, nhờ kinh nghiệm quân sự ông ta rút lui an toàn vào đồn lũy. Sau đó ông Maisonneuve củng cố đồn lũy vững chắc hơn, xây nhà nguyện, bịnh viện và làng người da trắng đầu tiên tại Montréal. Lúc này làng có tên là Ville Marie nằm trong vùng New France (Tân Pháp) tức vùng đất Bắc Mỹ Châu do người Pháp khám phá và tuyên bố chủ quyền. Ðến năm 1651 làng Ville Marie bị người Iroquois liên tục tấn công, ông Maisonnauve cùng những người da trắng phải ở miết trong thành, có lúc tưởng rằng làng Ville Marie tới thời kỳ chấm dứt. Năm 1652 ông buộc phải trở về Pháp để huy động chừng 100 quân tình nguyện sang bảo vệ Ville Marie. Nếu kế hoạch huy động quân tình nguyện này thất bại, không ai chịu sang thì Ville Marie phải bỏ trống và những người sống sót di tản về Québec City ở hạ lưu sông về phía Bắc. Khi ông Maisonnauve trở lại cùng 100 tình nguyện quân lúc này làng chỉ còn 50 người da trắng. May thay sau khi được tăng cường quân viện, số người trở về Ville Marie tăng dần đủ để chống lại các cuộc tấn công của người Iroquois. Năm 1663 triều đình Pháp nhận trách nhiệm bảo vệ Ville Marie từ dòng truyền giáo và cử ông Maisonnauve lên làm thống đốc New France tức các lãnh thổ của Pháp ở Bắc Mỹ nhưng ông từ chối và trở về Pháp năm 1665 sau 24 năm gắn bó với thành phố Montréal và ông mất vào năm 1676. Paul Chomedey de Maisonneuve được xem là người khai sáng, thành lập thành phố Montréal đầu tiên, ngày nay tượng đài của ông được dựng ở quảng trường Place d'Armes và nhiều nơi trong thành phố.

Ðầu thế kỷ 18 tên Montréal dần dần thay thế Ville Marie và dãy tường thành dọc theo phía Tây Montréal được dựng nên năm 1717 lần này không phải để chống thổ dân da đỏ Iroquois mà là sợ quân Anh xâm lăng. Từ khi Montréal có tường thành kiên cố bảo vệ khỏi lo giặc giã tấn công, thành phố lại gặp một vấn nạn lớn khác là hỏa hoạn. Một thành phố với nhiều nhà bằng gỗ xây khít vách nhau và nhà nào cũng có lò sưởi đã xảy ra nhiều trận cháy kinh hồn trong thời gian này. Năm 1721 Montréal nhận lịnh từ triều đình Pháp cấm xây nhà bằng gỗ, các kiến trúc chỉ được dùng đá và gạch nhưng lịnh cấm này không bao giờ được chấp hành.

Năm 1763 Pháp thua trận với Anh Quốc trong cuộc chiến giành thuộc địa và toàn thể thuộc địa Pháp ở Bắc Mỹ như Louisiana, Caribbean trở thành thuộc địa Anh Quốc và Tây Ban Nha cũng mất Florida vào tay người Anh. Montréal thất thủ trước quân Anh sớm hơn từ năm 1760, mặc dù Anh Quốc cai trị nhưng bộ mặt thành phố không thay đổi mấy, kiểu nhà vẫn xây theo lối Pháp. Thành phố thay đổi nhiều không phải vì đổi chủ quyền mà là vì hỏa hoạn, những trận cháy lớn vào các năm 1765, 1768, 1803, 1821 thiêu rụi hơn phân nửa nhà cửa ở khu phố cổ Montréal kể cả các nhà thờ, khách sạn, bịnh viện. Từ đầu thế kỷ 20 thành phố phát triển việc xây dựng, những kiến trúc tân thời trám vào những bãi đất trống và từ đó thành phố có nhiều cao ốc chọc trời, kiến trúc tân thời nằm cạnh những tòa nhà cổ kiểu Pháp, kiểu Victorian của Anh. Bộ mặt sống động, đa dạng, giao thoa giữa nét cũ và mới, phố xá thay đổi kiểu cách khiến du khách không nhàm chán, đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, phải chăng đó là nét hấp dẫn của phố cổ Montréal khiến nơi đây không bao giờ vắng bóng du khách.

Từ trên đồi xuống con đường một chiều Avenue Du Parc sau khi gặp Rue Shebrooke đổi thành Rue De Bleury. Sau khi đi phía dưới xa lộ 720 Autoroute Ville Marie, chúng tôi rẽ trái vào đường Rue Notre Dame là tới vương cung thánh đường Notre Dame Basilica tức nhà thờ Ðức Bà tọa lạc trong một khu phố rất gần bến cảng Montréal.

Notre Dame Basilica

Tiếng Pháp gọi vương cung thánh đường Ðức Bà là “La Bisilique Notre Dame”, nhà thờ kiểu Gothic có hai tháp chuông đối xứng nhau tọa lạc tại số 110 Notre Dame Street West phía trước là công trường Place d'Armes có tượng đài của người khai sáng thành phố là Maisonnauve. Là một trong những nhà thờ nổi tiếng vì tính cách lịch sử cũng như kiến trúc đồ sộ nhưng cân xứng hài hòa. Bên trong nhà thờ rộng lớn, trần cao có màu xanh lục đậm với những ngôi sao mạ vàng lấp lánh, phần còn lại trong nhà thờ với nhiều màu sắc khác nhau so với những nhà thờ cổ khác toàn màu xám hay trắng của đá. Nhà thờ còn có hàng trăm bức tượng, phù điêu bằng gỗ điêu khắc công phu cũng như các kính màu (stained glass) thông thường vẽ những cảnh trong thánh kinh, ở đây ghi lại những biến cố tôn giáo gắn liền với lịch sử của thành phố Montréal. Một vật quý báu khác là dàn phong cầm của các sư huynh dòng Casavant rất đồ sộ gồm 4 bàn phím (keyboards) với 9,000 ống kim khí (pipes) thanh âm. Âm thanh của dàn phong cầm không dùng máy khuếch âm vẫn dìu dặt thánh thoát vang rền, khắp nhà thờ đều nghe rõ.

Lịch sử của vương cung thánh đường Ðức Bà gắn liền với lịch sử Montréal: năm 1657 phái bộ truyền giáo Thánh Sulpice đến Ville Marie và ở lại đến năm 1840. Phái bộ truyền đạo cho thổ dân, đem ánh sáng văn minh để cải tiến đời sống của họ và thành lập họ đạo. Một nhà thờ lấy tên thánh là Mary và được xây trên mảnh đất này vào năm 1672, nhà thờ là nơi đặt văn phòng chánh tòa của Giáo Phận Montréal từ năm 1821. Năm 1824 giáo xứ quá đông phải xây nhà thờ mới rộng lớn mới có đủ chỗ cho việc hành đạo nên giao cho ông James O'Donnell người theo giáo phái Protestant đến từ New York. Ông ta trước khi chết cải đạo sang Công Giáo La Mã để được chôn dưới hầm nhà thờ và là người duy nhất xác được chôn ngay trong nhà thờ. Tòa nhà chính nhà thờ hoàn tất năm 1830 nhưng hai tháp chuông mãi đến 1843 mới xong và là nhà thờ lớn nhất trên lục địa Bắc Mỹ. Trang trí bên trong nhà thờ là một công trình chi tiết mất nhiều thời gian do Victor Bourgeau đảm trách từ 1872 đến 1879 và toàn thể nhà thờ hoàn tất năm 1888. Nhà thờ được nâng lên hàng Vương Cung Thánh Ðường (Basilica) bởi Ðức Giáo Hoàng John Paul II vào ngày 21 Tháng Tư 1982 nhân dịp Ðức Giáo Hoàng viếng thăm Canada. Nhà thờ hàng năm vào dịp Lễ Giáng Sinh có truyền thống tổ chức một buổi thánh ca hát với dàn phong cầm vĩ đại. Vào viếng nhà thờ phải chịu lệ phí là 5 đồng Canada chỉ trừ khi tham dự thánh lễ.

Trên con đường Rue Notre Dame trước nhà thờ thỉnh thoảng trông thấy một chiếc xe ngựa chở du khách chạy ngang khua những tiếng lọc cọc trên đường phố. Thường là ngựa bạch rất to lớn vạm vỡ và người nài ngựa là một thanh niên áo sơ mi trắng, quần đen lịch sự. Bến xe ngựa ở trước tòa án thành phố (Palais de la Justice), từ nhà thờ Notre Dame đi về hướng Ðông Bắc đến góc đường Saint Laurent sẽ gặp bến xe ngựa. Du khách có thể lên xe ngựa dạo quanh khu phố cổ, chuyến dạo chơi cũng rất thích thú nhưng giá không rẻ chút nào: 40 tiền Canada cho nửa giờ, còn một giờ là 65 đô la. Ðường Saint Laurent nếu đi ngược trở lên về hướng Tây Bắc sau khi qua khỏi xa lộ 720 sẽ gặp khu phố Tàu nhưng chúng tôi sẽ đến đó sau để ăn phở, bây giờ đi bộ về hướng Ðông thăm bến cảng Montréal, một bến sông nhưng ngày xưa tàu thuyền tấp nập không thua gì một hải cảng.

Bến cảng Montréal

Cảng Montréal nằm trên bờ sông St. Lawrence (tiếng Pháp là St. Laurent) là thủy trình quan trọng nhất của xứ Canada nối Ðại Ngũ Hồ trên đất Mỹ với 3 thành phố lớn Canada và biển Ðại Tây Dương. Vào thế kỷ 18, 19 bến cảng tấp nập những thuyền buồm chuyên chở hàng hóa giữa Canada và Âu Châu. Ngày nay những bãi chứa, kho hàng, quán rượu, những căn nhà của gia đình thủy thủ dọc theo bờ sông không còn thấy thay vào đó là những công viên cây cối, bãi cỏ xanh và những con đường dạo mát quanh co uốn khúc, là nơi thư giãn vui chơi của người dân đô thị Montréal. Những cầu tàu lớn đúc bằng bê tông vẫn còn nhưng vắng đi những thương thuyền mà thay vào đó là những du thuyền tư nhân kiểu nhỏ và thỉnh thoảng một du thuyền (cruise) vĩ đại ghé vào đưa hàng ngàn du khách lên bến ngao du tham quan thành phố. Sở dĩ bến tàu không còn nhộn nhịp nữa là vì ngày xưa thế kỷ 18, 19 Montréal là vùng đất mới chưa có nhà máy sản xuất nên phải nhập hàng hóa từ Âu Châu và xuất bến da và lông thú, thời kỳ đó người Âu rất ưa chuộng dùng làm y phục (ngày nay da và lông thú bị cấm). Trông bến tàu có vẻ vắng vẻ nhưng theo thống kê hàng năm xuất nhập 26 triệu tấn hàng phần lớn là ngũ cốc, đường, sản phẩm dầu lửa, máy móc và hàng tiêu dùng.

Ði dọc theo những công viên cạnh bờ sông, nhìn những bến tàu vắng vẻ đìu hiu một thời rất hưng thịnh, người hoài cổ mơ hồ đâu đây cảnh nhộn nhịp của bến nước năm xưa mà ngậm ngùi cho thời cuộc đổi thay:

“Bến xưa xe ngựa hồn thu thảo,

Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương”

(Thăng Long Hoài Cổ - Bà Huyện Thanh Quan)

Chợ Tàu Phố Việt ở Montréal

Chúng tôi lang thang trong phố cổ Montréal nơi đây vẫn còn nhiều dinh thự, nhà thờ, phố xá, bến sông, cầu tàu... theo kiến trúc Pháp một thời nguy nga, người qua nhộn nhịp nay chỉ là di tích lịch sử, tường xám mái ngói rong rêu bên những con đường lát đá quanh co nhỏ hẹp. Montréal có phong cách Âu Châu trên từng góc phố, quán cà phê, những cỗ xe ngựa lọc cọc trên đường và những cô thiếu nữ nhỏ nhắn, vui tươi, phảng phất nét đằm thắm dịu hiền của người Á Ðông.

Nhà Thờ Notre Dame de Bonsecours

Phía Bắc của bến cảng có nhà thờ Notre Dame de Bonsecours, nhà thờ không lớn nhưng rất cổ xưa được xây từ năm 1771 trên nền một nhà nguyện bị thiêu rụi. Ðây là một trong những nhà thờ được xây đầu tiên ở Montréal khi người Pháp sang truyền đạo, đem nền văn minh Âu Châu khai phá các bộ lạc sơ khai ở miền Tân Thế Giới. Nhà nguyện bằng đá đầu tiên do bà Marguerite Bourgeoys là một bà giáo người Pháp vận động với chính quyền Pháp xây dựng vào năm 1655. Năm 1673 nhân chuyến trở về Pháp bà Bourgeoys mang sang một tượng Ðức Mẹ bằng gỗ tên là “Our Lady of Good Help” để đặt trong nhà nguyện. “Our Lady of Good Help” (tiếng Pháp “Notre Dame de Bon Secours”). Người Trung Hoa khi sang đất mới thường xây chùa để thờ Bà Thiên Hậu thì người Pháp cũng vậy, xây nhà nguyện thờ Ðức Bà Hằng Cứu Giúp là bà thánh giúp họ trong những lúc gian nan hiểm nghèo như những chuyến vượt biển. Nhà nguyện bị hỏa hoạn thiêu rụi vào năm 1754 nhưng rất may bức tượng gỗ Ðức Bà Hằng Cứu Giúp được mang ra kịp.

Sau khi người Anh chiếm Montréal từ tay người Pháp trong cuộc chiến giành thuộc địa giữa Anh và Pháp (1754-1763), trên nền nhà nguyện bị cháy hoang tàn là nơi những người lính Iris và Scottland theo Công Giáo đến dự lễ những ngày Chủ Nhật. Trong thời gian này họ vận động ngân quỹ để xây nhà thờ mới Saint Patrick là giáo xứ đầu tiên ở Montréal và năm 1771 nhà thờ Notre Dame de Bon Secours được xây lại. Vào thế kỷ 19 nhà thờ trở nên đông đảo khách hành hương cầu nguyện trước tượng Ðức Bà Hằng Cứu Giúp nhất là những thủy thủ sau khi đến bến Montréal cầu xin được trở về bình an. Năm 1849 Tòa Giám Mục Montréal trao tặng nhà thờ tượng Ðức Mẹ Ðồng Trinh Như Ngôi Sao Biển để đặt trên tháp chuông nhìn ra hải cảng từ đó nhà thờ được dân chúng gọi là “Nhà thờ của dân đi biển.” Hiện nay nhà thờ cũng là nhà bảo tàng của nữ thánh Marguerite Bourgeoys vì dưới hầm mộ nhà thờ là nơi an táng bà giáo người Pháp cũng như những di tích về nhà nguyện đổ nát trước đó. Ðịa chỉ nhà thờ là 400 Saint Paul Street East nơi góc Bonsecours St. và không xa nhà ga Métro Champ de Mars.

Bonsecours Market

Ngay cạnh phía Nam nhà thờ Bonsecours là một tòa dinh thự hai tầng to lớn với mái vòm hình bán cầu như điện Capitol tòa nhà lập pháp bên Mỹ. Bên ngoài hoành tráng bề thế như vậy nhưng tòa nhà lại là một... ngôi chợ. Ðó là Bonsecours Market bên trong rất nhiều cửa hàng buôn bán đồ cổ, quà kỷ niệm, vật dụng trang trí, tranh nghệ thuật, quán cà phê, nhà hàng v.v... Thật ra tòa nhà chợ được khánh thành vào năm 1847 đầu tiên là tòa nhà Lập Pháp của Canada vì lúc đó Montréal là thủ đô, sau đó trở thành Tòa Thị Chính thành phố Montréal (1852 đến 1878). Những năm đầu 1900 tòa nhà đã trở thành chợ với những gian hàng buôn bán bên trong và tràn cả ra phía ngoài như công trường Champ de Mars. Chợ đã bị hỏa hoạn nhiều lần như các năm 1891, 1948 và 1954. Trong trận cháy 1948 mái vòm không còn nữa nhưng vẫn hoạt động thương mại cho đến năm 1963 thì đóng cửa hẳn vì ngôi chợ mới khác được xây ở về phía Bắc thành phố. Năm 1964 nhằm trùng tu lại khu phố cổ, chợ Bonsecours được tô điểm lại mặt tiền, xây lại vòm mái bên trên bằng kim loại theo đúng kiểu ngày xưa và tăng cường vững chắc bên trong bằng bê tông cốt sắt. Tòa nhà được ngăn ra thành nhiều văn phòng công sở. Năm 1976 mái vòm lại bị cháy thêm một lần nữa và được xây lại năm 1978. Năm 1990 các công sở nhà nước rời khỏi tòa nhà trả lại ngôi chợ để dùng vào tiện ích công cộng và từ 1996 việc buôn bán được tái lập, tầng dưới là các gian hàng bán tranh, sản phẩm nghệ thuật và các món đồ thủ công, tầng trên là những gian phòng đa dụng rộng lớn. Năm 2001 đến 2004 ngôi chợ được chỉnh trang toàn bộ, một lần nữa trở thành một thương xá lớn. Chợ Bonsecours là một trong những địa điểm được du khách viếng thăm, ăn uống nhiều nhất ở Montréal.

Chợ Tàu đường Saint Laurent

Từ chợ Bonsecours chúng tôi đi về hướng Nam và rẽ phải vào đường Boulevard Saint Laurent, qua khỏi xa lộ 720 thì đụng phải cổng chào theo kiểu Trung Hoa là lối vô khu chợ Tàu. Phố xá hai bên đường Saint Laurent là những dãy phố lầu cất sát nhau, có những căn đến 4, 5 tầng nhưng trông có vẻ cũ kỹ với tường gạch đỏ. Vì thời tiết thường lạnh nên các cửa hàng trong khu phố Tàu này đều đóng kín cửa, người mua cứ tự nhiên đẩy cửa bước vào trong để mua sắm hay ăn uống. Ðầu tiên về phía thương mại của người Việt thấy có tiệm thuốc Tây của nữ dược sĩ Tu Quan Tu bên phải và Phở Việt Nam bên trái, kế đến là Phở Cali, Phở Bằng New York, Phở Bắc, tiệm thuốc Bắc Quốc Tế, tạp hóa Kiên Vinh, Thuận Phát, Tân Nam. Gần cổng chào phía Bắc là Phở Saigon, Hoàng Oanh Sandwich và tiệm băng nhạc Hải Âu. Xen kẽ là những nhà hàng, tiệm thuốc Bắc, tạp hóa của người Hoa cũng là những căn phố 1, 2 căn như các tiệm người Việt, không thấy những chợ thực phẩm lớn như ở Toronto hoặc California. Giữa khu chợ Tàu có con đường nhỏ xuyên ngang Rue de la Gauchetière không cho xe cộ lưu thông mà chỉ dành cho người đi bộ, thấy du khách mua sắm, dạo chơi rất đông cũng như có nhiều nhà hàng Tàu trên con phố nhỏ đó.

Chúng tôi ăn trưa trong tiệm Phở Bắc vì thấy tiệm này rộng rãi hơn các tiệm phở khác. Bảng hiệu bên ngoài tiệm đề bằng tiếng Pháp “Specialite Soupe Tonkinoise” (Súp đặc biệt Bắc Phần). Phở ở đây nấu theo khẩu vị của người Hoa không có gia vị trái hồi, giá mỗi tô 7.50 đô la Canada, cũng có dĩa giá sống và rau húng quế kèm theo. Ăn phở xong theo đại lộ Boulevard Saint Laurent chúng tôi đi về hướng Bắc, qua khỏi cổng chào ở ngã tư Blvd. St. Laurent và Blvd. René Lévesque là hết khu Phố Tàu và bắt đầu vào phố Tây. Theo cháu tôi ở Montréal cho biết con đường St. Laurent ngày xưa là con đường huyết mạch và người dân Montréal gọi là Main Street như trong các thành phố bên Mỹ. Trên đường này rất nhiều nhà hàng, hộp đêm và những tiệm tạp hóa bán thức ăn các nước Ðông Âu như các loại phó mát, xúc xích, gia vị ớt cay của Hungary và nhiều nước khác nữa. Ðường St. Laurent nằm hơi xiên nhưng tạm gọi là nằm theo hướng Bắc Nam, chia thành phố ra làm hai vùng: vùng phía Tây nói tiếng Anh và vùng bên Ðông nói tiếng Pháp. Càng đi về hướng Bắc phố xá có vẻ khang trang, mới mẻ hơn cũng là nơi quy tụ dân tứ xứ về đây lập nghiệp hơn 100 năm về trước như cộng đồng người Do Thái, Trung Hoa và Ý, sau đó là người Bồ Ðào Nha, Hy Lạp, Á Rập, Haiti v.v... Trên đường có những khu như Little Italy (giữa St. Zotique và Jean Talon Street), Little Portugal quy tụ gần Duluth và Rachel Street, khu quán ba và hộp đêm (giữa Sherbrooke và Duluth St.). Ngoài ra còn có khu “đèn đỏ” xưa nay các cô gái kinh doanh bằng vốn... tự có ở góc đường St. Laurent và St. Catherine và trong những năm qua (2007-2008) thành phố đã chi ra ngân khoản 167 triệu đồng để thay đổi bộ mặt khu này với tên mới là “Quartier des Spectacles” có nghĩa là “khu cảnh quan đẹp mắt”! Không biết có đẹp thật hay không?

Ðường Saint Catherine

Nhân đi ngang đường St. Catherine, cần nói thêm đây cũng là con đường thương mại chính của thành phố, kéo dài từ Tây sang Ðông, bắt đầu từ thành phố Westmount nơi góc đường Claremont và De Maisonnauve, con đường đi xuyên ngang quận Ville Marie và chấm dứt ở đường Notre Dame East. Ðường Saint Catherine chạy song song với khu phố lớn nhất của Underground City nơi phía dưới của những cao ốc văn phòng ăn thông với khu phố buôn bán xây trong lòng đất, rất tiện lợi cho dân chúng mua sắm trong mùa Ðông nhất là dịp Noel. Nên nhớ mùa Ðông Montréal còn lạnh hơn Moscow và St. Peterburg nên mỗi khi viếng Montréal vào mùa Ðông, du khách nên trang bị đồ ấm giống như đi... trượt tuyết. Ðường Saint Catherine cũng là thiên đường của quý phụ nữ thích mua sắm hay chỉ mua sắm bằng mắt qua tủ kính vì hai bên đường là những thương xá lộng lẫy như Eaton's, Hudson's Bay, Simpson's, Dupuis Freres v.v...

Saint Catherine còn là con đường văn hóa nghệ thuật với nhiều rạp hát, thính đường hòa nhạc và rạp chiếu phim quy tụ gần khu phố Quartier des Spectacles xưa kia là khu giải trí về đêm hay còn được gọi là “khu đèn đỏ.” Ngày nay các hoạt động chợ tình đã giảm, chỉ còn những hộp đêm thoát y (strip clubs) như Supersexe, Le Vieux Four, La Calèche du Sexe. Ðặc biệt hơn là con đường đi ngang qua làng... Gay (Gay Village) ở về cuối phía Ðông của khu downtown, đoạn giữa Saint Hubert và Panineau. Với nhà ga xe điện ngầm Beaudry có mặt tiền trang trí bằng cầu vòng (rainbow) ngũ sắc, du khách tới khu này rất thuận tiện bằng đường xe điện màu xanh “Green Line.” Mùa Hè từ giữa Tháng Năm cho tới giữa Tháng Chín, con đường Saint Catherine ở khu Làng Gay này đóng lại không cho lưu thông mà chỉ dành cho khách bộ hành để các cửa hàng bày ra buôn bán trên vỉa hè và các quán ăn kê bàn ra tận ngoài đường. Mùa Hè nơi đây cũng có nhiều lễ hội, diễn hành của cộng đồng đồng tính. Ngoài các khu thương mại, giải trí, đường Saint Catherine còn là con đường đại học với nhiều trường nổi tiếng như Concordia University, McGill University, Université du Québec à Montréal, Dawson College và La Salle College.

Sau một ngày rong ruổi thăm viếng khu Phố Cổ, Phố Tàu, Phố Trong Lòng Ðất (Underground City) toàn là cuốc bộ và đi Métro, chúng tôi cũng đã mệt đừ nhưng rất vui vì khám phá một thành phố Pháp trên lục địa Bắc Mỹ với nhiều di tích lịch sử, thời người Âu sang truyền đạo trên những vùng đất mới xa xôi, nhận thấy có những điểm tương đồng với lịch sử Việt Nam chúng ta. Chúng tôi trở về khách sạn Quality Inn trên đường Crésent. Chiều xuống khu phố đường Crésent rất đông vui, tấp nập du khách thường từ bên Mỹ sang vì Montréal chỉ cách New York khoảng 385 miles (619 km) không mấy xa xôi, lái xe 7 tiếng là tới. Ðầu con đường hướng Bắc nơi giao nhau với đại lộ Sherbrooke là ngôi nhà thờ Erskine bằng đá cổ kính bên cạnh phía trái là nhà Bảo Tàng Nghệ Thuật (Musée des Beaux Arts). Xuống hướng Nam rất nhiều nhà hàng ăn uống, các quán rượu, hộp đêm đông nghẹt du khách như Troika Restaurant & Bar, Restaurant L'Autre Saison. Café Testarossa, Light Ultra Club, nhà hàng Lebanese Boustan, Hard Rock Café, Café Via Crésent, Restaurant Casa Pino, ngang khách sạn Quality Inn có Hurley Irish Pub. Restaurant Shehrazad, Bistro Le Thé Au Logis v.v...

Buổi tối chúng tôi la cà dạo phố trên con đường đông vui du khách Crésent này và ăn chiều chia tay với mấy đứa cháu ở Montréal trong nhà hàng Havana với các món ăn Cuba. Sau đó trở về khách sạn lấy xe đưa hai đứa cháu về nhà ở gần ga Métro Jean Talon phía Bắc Mount Royal. Con đường không xa khoảng 7 km nhưng qua các khu phố nhiều đèn xanh đèn đỏ, lưu thông không được mau nhưng là dịp quan sát phố xá, khu dân cư Montréal. Downtown không có nhà riêng biệt thự với sân trước vườn sau như ở Cali mà là những căn phố chung cư cất liền nhau chung vách, mặt tiền nhà quay ra đường. Không có ga ra đậu xe ở mặt tiền như bên Mỹ (nếu có xe thì đậu dọc theo hai bên đường, đường nhỏ nên thường một chiều). Ở đây nhà nào cũng có lầu và cầu thang lên lầu xây phía trước nhà (vì là một apartment riêng) nên trông rất lạ. Nhiều nơi phía dưới là một căn phố buôn bán đóng kín cửa, phía trên có cầu thang lên là nhà ở.

Ở ngã tư Jean Talon và Saint Denis là nhà ga Métro Jean Talon, một điều thật ngạc nhiên là trên đường Saint Denis rất nhiều cửa hàng thương mại của người Việt Nam, có tiệm bách hóa như chợ nhỏ, nhà hàng ăn uống, tiệm phở, quán cà phê, phòng mạch bác sĩ. Khu thương mại Việt Nam ở đây không tập trung một chỗ mà nằm rải rác xen lẫn với các tiệm của các cộng đồng thiểu số khác. Theo cháu tôi cho biết có khoảng 100 cơ sở thương mại Việt Nam rải rác trong vùng Jean Talon và St. Denis này, gia đình cháu tôi cũng thường mua thực phẩm Việt Nam ở đây chứ không xuống chợ Tàu St. Laurent ở phố cổ Ville Marie.

Sáng mai chúng tôi giã từ Montréal, thành phố Pháp trên lục địa Mỹ Châu để đi New Haven (thuộc Connecticut) gần New York là nơi hai đứa cháu tôi định cư. Tháng Ba năm 1979 từ trại tỵ nạn Songkhla gia đình tôi cùng hai đứa cháu này tất cả là 7 người sang định cư ở New Haven do phi hành gia Trịnh Hữu Châu bảo lãnh. Sau 3 tháng đi làm ở đây vì thời tiết lạnh, tôi dọn về Cali và hai cháu này ở lại cho đến ngày nay. Vì vậy chuyến trở lại New Haven có trường đại học Yale nổi tiếng lần này như trở về chốn cũ 30 năm trước, tôi sẽ thăm lại căn nhà năm xưa nơi ghi lại nhiều kỷ niệm những ngày tháng đầu tiên trôi nổi trên xứ người:

“Em có nhớ căn nhà xưa bên khu vườn cải

Nơi những sớm mai nằm nghe nắng giòn trên mái

Ở đó có những lũ sên bò quanh

Những vết nứt rêu tường xanh

Có giếng nước soi trời trong

Ở đó có lá cuốn rơi ngoài sông

Có gió mát đêm bình yên

Có những tiếng chuông gần lắm

Pha hòa tiếng cầu kinh...”

(Căn Nhà Xưa - Nguyễn Ðình Toàn)