Montréal,
thành phố Pháp trên đất Canada
Montréal
là thành phố lớn thứ nhì
Giã
từ Toronto chúng tôi theo hai đứa cháu gọi bằng cậu
ngày xưa cùng chung ghe vượt biển với tôi đi
Montréal cách Toronto 337 miles về hướng Ðông
Bắc. Ở Montréal tôi cũng có vài người
bà con như gia đình người chị cô cậu có hai
thằng con cùng đi với tôi trong chuyến vượt biển
Tháng Mười Hai, năm 1978. Sau khi thuyền chúng tôi
đến bến bờ tự do ở Thái Lan, hai cháu này đi
Canada định cư sau đó bảo lãnh cha mẹ sang. Hơn 30 năm
bận công ăn việc làm chúng tôi chưa hề gặp
nhau. Từ Toronto chúng tôi dùng xa lộ 401
lúc đầu cập theo hồ
Sáu
giờ chiều vẫn cập theo sông Lawrence khi đi hết phần đất tỉnh
Ontario vừa sang tỉnh Québec xa lộ 401 đổi thành 20 đụng
phải con sông Ottawa từ bên trong Ottawa chảy ra để nhập
dòng vào sông Lawrence. Vùng này
toàn sông hồ đầm ao, cây cối rất đẹp nhưng
không thấy nhà cửa, chắc là sợ lũ lụt. Vừa qua cầu
bắc ngang sông
Tiếng Pháp vùng
Québec
Rẽ ra
xa lộ vào thành phố Montréal, đường sá nho
nhỏ nhiều bảng hiệu lưu thông viết toàn tiếng Pháp
mà ngoài xa lộ không thấy. Có bảng màu đỏ đề “Arrêt”,
thằng cháu lái xe hoang mang hỏi: “Cậu ba, bảng
này nói cái gì vậy?” Tôi cũng
không biết, thấy giống chữ “Arrest” trong tiếng Anh có
nghĩa là bị bắt giữ mà lại màu đỏ, tôi
kêu nó thắng lại. Thấy bên đường đối diện cũng bảng
này xe dừng lại 10 giây rồi lại chạy tiếp. Tôi mới
biết là bảng “Stop”! Lạ thật tôi từng qua bên
Pháp, họ vẫn đề chữ “Stop” giống như bên Mỹ, còn ở
Ngày
xưa tìm ra vùng Montréal là người
Pháp dưới thời vua Francis I vào khoảng năm 1500, sau
đó người Pháp di dân sang, đến năm 1760 họ đầu
hàng người Anh và nước Anh chiếm làm thuộc địa. Do
đó đa số dân chúng ở đây có tổ
tiên là người Pháp nên họ nói tiếng
Pháp. Montréal là thành phố lớn duy nhất
trên lục địa Bắc Mỹ nói tiếng Pháp, so với cả thế
giới là thành phố đông dân nói tiếng
Pháp chỉ sau Paris mà thôi. Có đến 6.7 triệu
người Canada nói tiếng Pháp phần đông sống trong
tỉnh Québec với hai thành phố lớn là Québec
và Montréal. Ngoài tỉnh Québec còn
khoảng 1 triệu người nói tiếng Pháp ở các tỉnh
bang Manitoba, New Brunswick, Alberta, Nova Scotia và
Saskatchewan. Tiếng Pháp người dân Québec
nói có chút ít khác với tiếng
Pháp hiện nay ở Paris vì tiếng Québec là
tiếng Pháp vào thế kỷ 17, 18 trong khi tiếng Paris du
nhập nhiều tiếng Anh thông dụng trở thành tiếng quốc tế.
Thí dụ như chữ “cuối tuần”, người Paris nói là
“week-end” thì người Québec vẫn dùng “fin de
semaine”, Paris dùng chữ “e-mail” thì Québec
dùng chữ “courriel”, chữ “thức uống” người Paris nói
là “boisson” trong khi người Québec là “breuvage”,
“ăn tối” Paris nói là “diner” ở Québec là
“souper”.
Thành phố Montréal
Thành
phố Montréal nằm trên một đảo hình trái
lê chiều dài khoảng 31 miles (50 km) và ngang
khoảng 10 miles (16 km), khu trung tâm tức phố cổ nằm cạnh bờ
sông Lawrence về hướng Ðông. Nơi đây có
bến cảng, tòa thị chính, nhà thờ Ðức
Bà, khu phố Tàu. Qua
bên kia sông để đi về hướng Ðông có 4 cầu
xe hơi, 2 cầu xe điện, 1 đường xe điện ngầm Métro và một
đường hầm xe hơi dưới lòng sông. Ở hướng Tây
là sông Prairies nhỏ hơn sông Lawrence cũng
có 6 chiếc cầu bắc ngang để đi qua khu ngoại ô là
Laval. Phía bên trong giữa đảo là dãy đồi
Mont Royal hiện là công viên thành phố, dưới
chân đồi hướng Ðông là khu tài
chính, ngân hàng với vài chục cao ốc chọc
trời giống như ở Toronto. Phi trường quốc tế Montréal là
Pierre Elliot Trudeau Airport ở về hướng Nam cuối đảo rất gần
thành phố. Ðường sá trong thành phố nhỏ hẹp
hơn các thành phố bên Mỹ, xe cộ cũng ít hơn,
phố xá nhà cửa có nét giống Âu
Châu nhất là những dãy phố lầu liên tục
sát vách nhau. Nhà cửa dân ở thường
là các chung cư nhiều tầng lầu và rất ít
nhà riêng với sân trước, vườn sau như ở Mỹ.
Ít bãi đậu xe nên thường xe hơi đậu dọc theo hai
bên đường, lưu thông trên phố có xe đạp, xe
gắn máy như ở Âu Châu. Montréal không
cho rẽ phải khi đèn đỏ, lại ít cho quẹo trái ở
các ngã tư, đến ngã tư nào cho rẽ phải hay
trái đều có bảng vẽ màu xanh.
Về
lưu thông công cộng khá tiện dụng cho người
dân, Montréal có hệ thống xe buýt, xe điện
ngầm, cả 2 hệ thống của hãng Société de transport
de Montréal (STM). Hệ thống xe buýt STM có 165
tuyến đường ban ngày và 20 tuyến đường ban đêm. Hệ
thống xe điện ngầm (Métro) khánh thành năm 1966
hiện nay có 4 tuyến đường với 68 nhà ga, mỗi nhà
ga cách thiết kế, nghệ thuật trang trí khác nhau
và xe chạy bằng bánh cao su rất êm ái
không gây ồn ào. Người sáng kiến dự án
này là thị trưởng Jean Drapeau sau đó đã
có công vận động để Montréal được tổ chức Thế Vận
Mùa Hè 1976. Hệ thống xe
điện ngầm chạy đến tận bờ phía Nam ở Longueuil, phía Bắc
đến thành phố ngoại ô là Laval với 3 nhà ga
mới thành lập. Ngoài ra trong thành phố còn
có hệ thống xe điện chạy trên mặt đất là Commuter
Rail nối khắp các vùng ngoại ô với hơn 15.7 triệu
hành khách sử dụng trong năm 2007 chỉ đứng thứ 6 ở Bắc Mỹ
sau các thành phố New York, Chicago, Boston, Philadelphia
và Toronto mà thôi.
Lịch sử Montréal
Nhiều
vật dụng các nhà khảo cổ đào lên được cho
thấy nhiều bộ lạc du mục đã sống trên đảo ít nhất
2,000 năm trước khi người Âu Châu đến. Người Iroquoians
đã tạo dựng làng Hochelaga dưới chân núi
Royal. Ngày 2 Tháng Mười, 1535, nhà thám
hiểm người Pháp tên Jacques Cartier đến viếng làng
Hochelaga và tuyên bố vùng thung lũng St. Lawrence
này thuộc về nước Pháp. Ông ta ước lượng dân
số ở đây hơn 1 ngàn người. Bảy mươi năm sau nhà
thám hiểm người Pháp khác tên Samuel de
Champlain báo cáo rằng thổ dân trước kia sống ở
đây nay không thấy nữa có lẽ vì chiến tranh
giữa các bộ lạc hay vì bịnh dịch di chuyển sinh sống nơi
khác. Champlain lập trạm trao đổi da thú với thổ
dân trên đảo Montréal vào năm 1611 gọi nơi
đây là La Palace Royale, địa điểm ngày nay
là Pointe-à-Callière. Năm 1639 Jérôme
Le Royer de La Dauversière nhận chức Ðức Ông đến đảo
Montréal để thành lập một nhà truyền giáo
cho dân bản xứ đồng thời Paul Chomedey de Maisonneuve được bổ
nhiệm làm thống đốc thuộc địa này. Ville-Marie trở
thành trung tâm trao đổi hàng hóa lấy da
thú cũng là trạm căn cứ để người Pháp khám
phá thêm vùng Bắc Mỹ và là thuộc địa
của nước Pháp cho đến năm 1760, Hầu Tước Pierre Francois de
Rigaud đầu hàng và giao Ville-Marie cho người Anh.
Montréal
được thành lập thành phố vào năm 1832. Người ta
đào kinh Lachine Canal để tàu thuyền lưu thông tạm
thời trong lúc ngăn khúc sông St. Lawrence lại để
xây cầu Victoria trong kế hoạch biến Montréal thành
một mạng lưới đường sắt cho xe hỏa. Ðến năm 1860 Montréal
là thành phố lớn nhất trong thuộc địa Anh vùng Bắc
Mỹ và là thủ đô của tỉnh Canada từ năm 1844 đến năm
1849. Sau Ðệ Nhất Thế Chiến với luật cấm buôn bán rượu
ở Hoa Kỳ khiến Montréal trở thành thiên đàng
của dân Mỹ nghiện rượu. Tới thời kỳ kinh tế khủng hoảng năm 1929
thành phố bị ảnh hưởng nặng nề với số người thất nghiệp
lên cao. Trong thời gian Thế Chiến Thứ Hai, Thị Trưởng Camillien
Houde chống lại luật thi hành quân dịch, ông
hô hào dân chúng không đăng ký
quân dịch theo luật chính quyền liên bang và
ông bị bắt đi tù cho đến năm 1944 mới được thả ra
và được bầu chức thị trưởng trở lại lần nữa. Năm 1951 dân
số thành phố vượt quá 1 triệu người, thủy trình
Saint Lawrence Seaway mở cửa năm 1959 cho phép các
tàu biển lớn lưu thông ngang qua Montréal để ra
biển đi các nước khác. Trong
thập niên 1960 thành phố tổ chức hội chợ quốc tế Expo 1967
cũng như xây các cao ốc chọc trời, xa lộ mới và hệ
thống xe điện ngầm. 1976 Montréal tổ chức thành
công Thế Vận Hội Mùa Hè. Thập niên 1980
và đầu 1990 kinh tế Montréal tăng trưởng chậm hơn
các thành phố khác của Canada nhưng những năm sau
đó tình hình kinh tế cải thiện, các
hãng xưởng, công ty tập trung về. Năm 2002 với câu
“Một đảo, một thành phố” Montréal mở rộng việc thống nhất
trở thành 27 quận (boroughs) và bao trùm hết đảo
nhưng sau đó dân chúng một số quận không chịu
sáp nhập (13% dân số) nhất là dân nói
tiếng Anh. Ðến ngày 1 Tháng Giêng 2006,
thành phố Montréal chỉ còn 19 quận còn 14
quận kia trả lại tự trị như cũ không thuộc vào
Montréal nữa.
Chúng tôi đi tìm nhà người chị cô cậu cũng khá vất vả vì trời lất phất tuyết rơi mặc dù chỉ mới giữa Tháng Mười. Loanh quanh một lúc cũng tìm được trong một khu Condo nhà dính liền vách với nhau. Hai vợ chồng chị cô cậu ở một căn, gia đình hai đứa con trai ở hai căn cũng trong khu đó. Từ 1979 đến nay đã hơn 30 năm chúng tôi mới gặp nhau, người chị bà con đã 75 và bị bệnh lãng trí Alzheimer nên cũng không nhớ tôi là ai? Ông chồng và hai thằng con cùng cậu cháu chúng tôi ngồi hàn huyên ôn lại chuyện xưa rất vui vẻ. Sau khi dùng cơm tối với nhau chúng tôi tạm chia tay để về khách sạn trong khu phố cổ Montréal và hẹn gặp lại ngày hôm sau. Theo hai cháu ở Montréal cho biết trước 1975, người Việt ở Montréal chỉ độ 100 người đa số là sinh viên du học. Sau đó nhất là trong khoảng thời gian từ 1975 đến 1985 Montréal tiếp nhận thuyền nhân tỵ nạn từ các trại Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Hồng Kông v.v... Hiện nay cộng đồng Canada gốc Việt tại Montréal ước tính khoảng 20,000 người hội nhập thành công với người bản xứ và cũng thành lập nhiều hội đoàn văn hóa, tôn giáo sinh hoạt rất đều đặn. Montréal cũng có khu phố Hoa Việt nằm trên đường Boulevard Saint Laurent, mặc dù nhỏ không so sánh được với Toronto nhưng cũng có nhiều tiệm phở, bánh mì, cà phê tạm sưởi ấm lòng người ly hương.
<>Hơn một thế kỷ rưỡi Montréal là trung tâm kỹ nghệ và tài chánh của Canada. Những kiến trúc đa dạng bao gồm hãng xưởng, kho hàng, nhà máy xay lúa mì, xưởng lọc dầu vẫn còn tồn tại trong tình trạng nguyên thủy cho đến ngày nay khiến cho thành phố còn rất nhiều di tích lịch sử, kiến trúc cổ nhất là ở khu trung tâm thành phố và khu bến tàu cũ. Những tòa nhà với kiểu cách Âu Châu trong khu phố cổ gồm có: Vương Cung Thánh Ðường Ðức Bà (Notre Dame de Montréal Basilica) xây năm 1672, chợ Bonsecours mở năm 1847, những tòa nhà ngân hàng vào thế kỷ 19 trên con đường St. James là những kiến trúc làm chùng lòng du khách hoài cổ mỗi khi ghé thăm Montréal. Những ai muốn thưởng ngoạn thiên nhiên có thể trèo lên đồi Mont Royal xem hoa nở và nhìn xuống thành phố rực rỡ ánh đèn khi hoàng hôn buông xuống. Nhưng gây ấn tượng nhiều nhất cho du khách đến viếng Montréal vào mùa Ðông băng giá là Thành Phố Trong Lòng Ðất (Underground City) có tên là RÉSO ở khu trung tâm và là quần thể xây cất ngầm dưới mặt đất rộng lớn nhất thế giới từ trước đến nay.
Thành phố ngầm RÉSO
Montréal Underground City tên chính thức là Réso hay tiếng Pháp còn gọi là La Ville Souterraine là tập hợp liên kết những chợ búa, nhà cửa với nhau vừa xây ngầm trong lòng đất vừa xây trên mặt đất. Với hệ thống đường hầm (tunnels) chiều dài hơn 32 km (20 miles) với tổng diện tích 12 km vuông (4.6 sq mi) kết nối với nhau những khu thương xá, chung cư, khách sạn, ngân hàng, trường đại học và 7 ga xe điện ngầm, 2 trạm xe điện mặt đất cũng như khu hội trường Bell Centre. Có tất cả 120 cửa ngõ để xuống thành phố ngầm, mỗi nơi khi vào đều có phố xá buôn bán, văn phòng dịch vụ, nhà băng, cửa hàng ăn uống thật tưng bừng náo nhiệt như một thành phố. Vào mùa Ðông mỗi ngày có hơn 500 ngàn người mua sắm ăn uống ở thành phố ngầm dưới đất nên người ta thường nhìn Montréal như thành phố có hai tầng hay “Hai thành phố trong một.”
Ý tưởng thành lập thành phố ngầm là do nhà thiết kế đô thị Vincent Ponte nảy sinh khi xây cao ốc văn phòng Place Ville-Marie và thương xá ngầm phía dưới vào năm 1962 để che những đường sắt ở phía Bắc nhà ga trung ương Central Station. Ðầu tiên người ta xây đường hầm nối Central Station và khách sạn Queen Elizabeth Hotel. Năm 1966 khi xây dựng hệ thống xe điện ngầm người ta đã thiết lập thêm những đường hầm nối từ nhà ga Bonaventure đến Château Champlain Hotel, cao ốc Place du Canada, Place Bonaventure, Central Station và Windsor Station. Những đường hầm rộng lớn này là khu đầu tiên thành hình thành phố ngầm sau này. Từ 1984 đến 1992 thêm hàng chục cao ốc mới xây khác cũng nối đường ngầm vào những trạm xe điện trong lòng đất nhất là vào cuối thập niên 1990 những công trình xây dựng đồ sộ như tòa nhà chọc trời cao nhất Montréal Le 1000 De La Gauchetière, Le 1250 René-Lévesque và Montréal World Trade Centre càng bành trướng thành phố ngầm thêm rộng ra.
Tên của thành phố ngầm là “RÉSO” đồng âm với chữ “Réseau” trong tiếng Pháp có nghĩa là “mạng lưới” (network) ở đây có nghĩa là “mạng lưới đường hầm”. Bảng hiệu RÉSO với chữ O sau cùng có mũi tên chỉ xuống màu xanh được treo ở các nhà ga xe điện ngầm để hành khách có thể đến đó mua sắm, ăn uống. Trong những tháng mùa Ðông thời tiết giá lạnh bên ngoài toàn là tuyết trắng, người dân Montréal khi sử dụng hệ thống xe điện ngầm thường đi chợ búa, dịch vụ trong thành phố dưới mặt đất rất tiện lợi và ấm áp. Hầu hết những cửa hàng dưới thành phố ngầm đều mở cửa đón khách trong giờ hệ thống xe điện ngầm còn hoạt động (từ 5:30 sáng đến 1 giờ sáng) trong khi những hiệu buôn trên mặt đất đã đóng cửa. Thành phố dưới mặt đất ở Montréal là địa điểm du lịch mà du khách phải thăm viếng mỗi khi đến Montréal và nó được quảng cáo trong hầu hết các quyển cẩm nang du lịch. Dưới thành phố ngầm đều có bảng chỉ dẫn cũng như bản đồ để du khách biết mình ở vị trí nào trong thành phố và ga xe điện nào gần nhất để trở về khách sạn.
Hệ thống xe điện ngầm métro ở Montréal
Mùa Ðông lái xe ở Montréal không dễ dàng nên người dân ở đây ít ai lái xe riêng như ở California mà hầu hết đều sử dụng các phương tiện chuyên chở công cộng như xe điện ngầm, xe điện trên mặt đất và lộ trình ngắn thì đi xe buýt. Mua sắm trong lòng đất thì người Montréal cũng di chuyển trong lòng đất với hệ thống xe điện ngầm Métro rất mau chóng và tiện dụng, không gây ô nhiễm lại rẻ tiền. Hệ thống Montréal Métro được điều hành bởi hãng Société de transport de Montréal (STM) được khánh thành vào ngày 14 Tháng Mười, 1966, dưới nhiệm kỳ thị trưởng của ông Jean Drapeau. Thời gian đầu hệ thống chỉ có 26 nhà ga nằm trên 3 tuyến đường riêng biệt, ngày nay hệ thống có 68 nhà ga với 4 tuyến đường nối nhau chiều dài tổng cộng 65.33 km (40.59 miles) phục vụ các vùng phía Bắc, Ðông và trung tâm của đảo Montréal nối với thành phố Longueuil (phía Ðông) bằng tuyến màu vàng và nối với thành phố Lava (phía Bắc) bằng tuyến màu cam. Còn hai tuyến màu lục và xanh lá cây nối ngang hai tuyến trên. Nhà ga trung ương tên Berri-Uqam ở trung tâm phố cổ nối 3 tuyến màu xanh, cam và vàng với nhau. Hệ thống xe điện ngầm Montréal có chiều dài thứ ba và số hành khách sử dụng đứng thứ nhì ở Canada, trong năm 2008 có 382.5 triệu người sử dụng. Nếu tính từ ngày khánh thành đến năm 2006 là 40 năm số người sử dụng là 6 tỷ người tương đương với dân số toàn cầu hiện nay. Các nhà ga xe điện ngầm ở Montréal thiết kế, trang trí rất đẹp mắt bắt chước theo kiểu hệ thống Métro ở Paris, Lyon và Marseille (3 thành phố lớn nhất nước Pháp). Vài năm sau hệ thống Métro ở Mexixo City cũng bắt chước tương tự và tất cả đều sử dụng toa xe chạy bằng bánh cao su rất nhẹ nhàng, êm ái.
Ðường Crésent phố du khách
Sau khi từ giã gia đình người chị cô cậu, chúng tôi lái xe đến đường Crésent St. thuộc khu trung tâm thành phố vì đã đặt phòng ở khách sạn Quality Inn. Tôi chọn khu phố này là vì theo báo chí du lịch con đường Crésent rất đông du khách từ Mỹ sang cư ngụ nơi đây. Ðây là con đường một chiều chỉ đi từ hướng Tây Bắc sang Ðông Nam, đường hẹp hai bên phố xá rất đông người Mỹ, tôi thấy có Starbucks Coffee, California Pizza và nhiều nhà hàng khác. Ban đêm cũng nhộn nhịp đông vui với nhiều quán rượu, cà phê trông rất ấm cúng và an ninh. Nói chung ở Montréal khu phố nào cũng an toàn vì tội ác rất thấp ở đây ngay cả khu phố trên đường St. Laurent Blvd. có khu chợ Tàu, ở khúc phía Bắc là khu sinh hoạt về đêm với nhiều nhà hàng, quán bar, hộp đêm (night clubs) cũng rất an ninh. Theo người dân ở tại Montréal họ chỉ hơi ngán con đường Ste. Cathérine St. khúc từ St. Laurent lên hướng Bắc tới khu Latin và tránh đi ngang qua đây vào ban đêm.
Sáng hôm sau hai đứa cháu con bà chị đến khách sạn chúng tôi ngụ cũng bằng hệ thống Métro và muốn đưa đi thăm các thắng cảnh, di tích cổ của Montréal. Khách sạn ở về hướng Ðông không mấy xa đồi Mount Royal nên địa điểm đầu tiên chúng tôi đi là lên đồi Mount Royal trong buổi sáng tinh mơ khi không khí còn rất trong lành.
Mount Royal Park
Ðồi Mount Royal hiện nay trở thành công viên Mount Royal Park được khánh thành từ năm 1876 thiết kế bởi Frederick Law Olmsted cũng là người thiết kế công viên Central Park ở New York. Công viên có nhiều cây cối, ao hồ, bãi cỏ là khoảng xanh lớn nhất ngay trung tâm thành phố. Ðồi Mount Royal gồm có 3 ngọn núi cao nhất là 233 m (764 ft), người Âu lên đây đầu tiên vào năm 1643 là Paul Chomedey de Maisonneuve cũng là người sáng lập thành phố Montréal. Ông ta là quân nhân người Pháp theo phái bộ truyền giáo đến Montréal và được xem là thị trưởng đầu tiên của thành phố. Ông xây đồn lũy vì bị thổ dân tấn công và nhiều lần suýt chết vì bị vây hãm. Khi bị trận lụt lớn ông cầu khấn cùng Ðức Bà Marie và để tạ ơn ông đã dựng một cây thánh giá trên núi. Năm 1924 một thánh giá lớn cao 103 ft (31.4 m) được thắp đèn thay thế cây thánh giá cũ. Năm 1992 đèn thắp sáng được thay bằng đèn “fibre optic” thay đổi các màu đỏ, lục và tím, màu tím chỉ được thắp khi đau buồn tang chế như khi Ðức Giáo Hoàng John Paul II băng hà vào Tháng Tư 2005. Ngày nay trên đồi có hai tòa nhà ngắm cảnh để ban đêm du khách lên đó nhìn xuống thành phố với những cao ốc rực rỡ ánh đèn. Một hồ nước tên Beaver Lake được đào với vườn tượng điêu khắc bên cạnh, mùa Ðông có đồi dốc để chơi trượt tuyết. Công viên được dân chúng thích lên ngắm cảnh thành phố phía dưới, đi bộ (hiking), picnic ăn uống vào mùa Hè và các cuộc chạy đua hoặc lễ hội văn hóa cũng thường tổ chức trên công viên như lễ hội vỗ trống “Tam Tam Jam” gồm hàng chục tay trống cùng đánh một lúc rất tưng bừng vui nhộn.
Trên đồi Mount Royal còn có hai nghĩa trang lớn dành chôn cất dân chúng thành phố từ thế kỷ 19: nghĩa trang Mount Royal Cemetery (thành lập năm 1852) rộng 165 acres ở triền phía Bắc ngọn đồi và nghĩa trang Notre Dame des Neiges Cemetery rộng lớn hơn (thành lập năm 1854) để chôn dân Pháp theo đạo Thiên Chúa Giáo La Mã. Có hơn 900 ngàn người được chôn trong 2 nghĩa địa này. Mount Royal Cemetery có 162 ngàn ngôi mộ là nơi an nghỉ của rất nhiều danh gia vọng tộc kể cả những cựu chiến binh từng được nhiều huy chương cao quý của triều đình Anh Quốc như huy chương Victoria Cross. Trong khu đồi công viên cây xanh Mount Royal Park nằm ở phía Ðông còn khu mộ phần của hai nghĩa trang nằm về phía Tây.
Trên núi rất nhiều đường chằng chịt, nhiều nơi rất dốc và nhỏ hẹp, trơn trợt dễ té ngã nhất là khi xuống đồi. Có nhiều đường để xuống núi và thỉnh thoảng có những bản đồ để du khách không bị lạc. Tuy nhiên rất ít quán xá bán nước uống nên tốt nhất là mua từ dưới phố mang lên. Chúng tôi từ từ vừa đi vừa hàn huyên vui đùa nên không thấy mệt. Từ đỉnh đồi nhìn xuống hướng Ðông, cao ốc phía dưới và xa xa là sông Saint Lawrence mặt nước phẳng lặng với nhiều con tàu đậu ở bến sông. Hôm nay chúng tôi lên núi vào buổi sáng cốt ý là chụp hình thành phố nằm phía dưới chứ đến vào ban đêm cảnh thành phố với nhiều cao ốc thắp muôn vạn ánh đèn rất lung linh huyền ảo, nhìn đẹp hơn ban ngày nhưng chụp ảnh thì hơi khó nếu trời không quang đãng và cần máy ảnh to và đắt tiền trong khi tôi thì di chuyển nhiều cần máy gọn nhẹ.
Ở cuối
phía Tây Nam Mount Royal có nhà thờ Saint
Josepth Ovatory địa chỉ số 3800 trên đường Queen Mary Road
là một kiến trúc rất đẹp với vòm mái
tròn bằng đồng to lớn được xây năm 1924. Nhà thờ
nằm trên đồi có bậc thang lên dốc giống như
nhà thờ Thánh Tâm (Montmartre) ở Paris. Hàng
ngày tín đồ hành hương đến đây rất
đông cầu nguyện để được chữa lành bệnh vì dưới
nhà thờ có an táng xác sư huynh
André . Ông sinh năm 1845 là một tu sĩ hớt
tóc lấy tiền để xây một nhà nguyện bằng gỗ
và nổi tiếng chữa được lành cho rất đông người. Năm
1911 Giáo Hội La Mã có đề cử một hội đồng để điều
tra việc chữa bệnh của ông. Kết quả hội đồng cho phép
tín đồ tiếp tục đến hành hương nhưng không
có ý kiến về các phép lạ. Sư huynh
André tiếp tục chữa bệnh cho đến khi qua đời năm 1937 và
được chôn trong hầm dưới nhà thờ. Trên bãi
cỏ, bậc thang trước nhà thờ lúc nào cũng
đông tín đồ hành hương và du khách
đến viếng thăm.
Thăm phố cổ
Montréal
Ðến thành phố Montréal của xứ Canada, tuy nằm trên lục địa Mỹ Châu nhưng du khách có cảm giác như lạc vào một thành phố nào đó trên đất Pháp. Những con đường lát đá tảng vuông quanh co, nhỏ hẹp, những ngôi giáo đường tường vàng, ngói đỏ phủ rêu xanh và những góc phố nhà cửa liền nhau, bảng hiệu viết bằng tiếng Pháp và nhất là những quán cà phê vỉa hè có những phụ nữ, điếu thuốc lá hờ hững trên tay ngồi nhìn dòng đời trôi lặng lẽ...
Phố cổ Ville Marie
Cậu cháu chúng tôi từ trên đồi Mont Royal thả bộ xuống bằng con đường Avenue Du Parc đi về hướng Ðông để vào khu phố Montréal ngày xưa thời kỳ còn thuộc Pháp được gọi là Ville Marie. Ville Marie là khu phố cổ ngày nay còn lưu lại rất nhiều kiến trúc Pháp thuộc thế kỷ 18, 19 như nhà thờ, ngân hàng, chợ búa, khách sạn... Càng đi về hướng bờ sông các kiến trúc càng mang đậm nét cổ xưa và chen lẫn trong đó có những tòa nhà cao tầng mới xây trong những năm sau này. Khi một tòa nhà cũ hư hại vì thời gian, hội đồng thành phố bao giờ cũng muốn sửa chữa giữ lại hình dáng nguyên thủy và nếu bắt buộc phải xây lại cũng chọn kiểu dáng cổ hợp với các kiến trúc xung quanh. Nhưng khó khăn là vấn đề “mặt bằng” làm sao có nhiều diện tích cho các văn phòng, cho các bãi đậu xe vì ngày xưa di chuyển bằng xe ngựa chưa thấy được nhu cầu bãi đậu. Vì vậy khi phá đi một kiến trúc cổ hư hại, trước đây người ta thường xây cao ốc và bãi hoặc nhà đậu xe.
Ville Marie hay dân địa phương gọi là “Vieux Montréal” (Montréal cổ) ngày xưa chỉ nằm dọc theo bờ sông St. Lawrence, ngày nay là một quận nằm giữa Mont Royal và giang cảng cũ của sông St. Lawrence được tuyên dương công nhận là khu di tích lịch sử vào năm 1964 bởi Bộ Văn Hóa Tỉnh Bang Québec. Ngược dòng thời gian vào năm 1605 nơi đây thương gia người Pháp Samuel de Champlain lập kho hàng chứa da thú đổi với thổ dân để đem về Pháp làm áo lông. Ðến năm 1641 sĩ quan Pháp Paul Chomedey de Maisonneuve theo phái bộ truyền giáo dòng Jesuit đến Montréal sau một chuyến vượt biển gian nan vất vả. Năm 1643 ông ta xây đồn lũy và được bình an sau trận lụt lớn, để tạ ơn ông là người dựng cây thánh giá đầu tiên trên núi Mont Royal. Ðến vùng đất mới, các nhà truyền giáo ngoài việc truyền đạo còn giúp thổ dân biết cách chăn nuôi, trồng trọt để có đời sống khá hơn và có thể chung sống hòa bình với họ. Nhưng giấc mộng kia bất thành, năm 1644 ông Maisonneuve bị thổ dân bộ lạc Iroquois tấn công suýt mất mạng trong một lần nhóm ông 30 người bị hơn 200 thổ dân vây khốn, nhờ kinh nghiệm quân sự ông ta rút lui an toàn vào đồn lũy. Sau đó ông Maisonneuve củng cố đồn lũy vững chắc hơn, xây nhà nguyện, bịnh viện và làng người da trắng đầu tiên tại Montréal. Lúc này làng có tên là Ville Marie nằm trong vùng New France (Tân Pháp) tức vùng đất Bắc Mỹ Châu do người Pháp khám phá và tuyên bố chủ quyền. Ðến năm 1651 làng Ville Marie bị người Iroquois liên tục tấn công, ông Maisonnauve cùng những người da trắng phải ở miết trong thành, có lúc tưởng rằng làng Ville Marie tới thời kỳ chấm dứt. Năm 1652 ông buộc phải trở về Pháp để huy động chừng 100 quân tình nguyện sang bảo vệ Ville Marie. Nếu kế hoạch huy động quân tình nguyện này thất bại, không ai chịu sang thì Ville Marie phải bỏ trống và những người sống sót di tản về Québec City ở hạ lưu sông về phía Bắc. Khi ông Maisonnauve trở lại cùng 100 tình nguyện quân lúc này làng chỉ còn 50 người da trắng. May thay sau khi được tăng cường quân viện, số người trở về Ville Marie tăng dần đủ để chống lại các cuộc tấn công của người Iroquois. Năm 1663 triều đình Pháp nhận trách nhiệm bảo vệ Ville Marie từ dòng truyền giáo và cử ông Maisonnauve lên làm thống đốc New France tức các lãnh thổ của Pháp ở Bắc Mỹ nhưng ông từ chối và trở về Pháp năm 1665 sau 24 năm gắn bó với thành phố Montréal và ông mất vào năm 1676. Paul Chomedey de Maisonneuve được xem là người khai sáng, thành lập thành phố Montréal đầu tiên, ngày nay tượng đài của ông được dựng ở quảng trường Place d'Armes và nhiều nơi trong thành phố.
Ðầu thế kỷ 18 tên Montréal dần dần thay thế Ville Marie và dãy tường thành dọc theo phía Tây Montréal được dựng nên năm 1717 lần này không phải để chống thổ dân da đỏ Iroquois mà là sợ quân Anh xâm lăng. Từ khi Montréal có tường thành kiên cố bảo vệ khỏi lo giặc giã tấn công, thành phố lại gặp một vấn nạn lớn khác là hỏa hoạn. Một thành phố với nhiều nhà bằng gỗ xây khít vách nhau và nhà nào cũng có lò sưởi đã xảy ra nhiều trận cháy kinh hồn trong thời gian này. Năm 1721 Montréal nhận lịnh từ triều đình Pháp cấm xây nhà bằng gỗ, các kiến trúc chỉ được dùng đá và gạch nhưng lịnh cấm này không bao giờ được chấp hành.
Năm 1763 Pháp thua trận với Anh Quốc trong cuộc chiến giành thuộc địa và toàn thể thuộc địa Pháp ở Bắc Mỹ như Louisiana, Caribbean trở thành thuộc địa Anh Quốc và Tây Ban Nha cũng mất Florida vào tay người Anh. Montréal thất thủ trước quân Anh sớm hơn từ năm 1760, mặc dù Anh Quốc cai trị nhưng bộ mặt thành phố không thay đổi mấy, kiểu nhà vẫn xây theo lối Pháp. Thành phố thay đổi nhiều không phải vì đổi chủ quyền mà là vì hỏa hoạn, những trận cháy lớn vào các năm 1765, 1768, 1803, 1821 thiêu rụi hơn phân nửa nhà cửa ở khu phố cổ Montréal kể cả các nhà thờ, khách sạn, bịnh viện. Từ đầu thế kỷ 20 thành phố phát triển việc xây dựng, những kiến trúc tân thời trám vào những bãi đất trống và từ đó thành phố có nhiều cao ốc chọc trời, kiến trúc tân thời nằm cạnh những tòa nhà cổ kiểu Pháp, kiểu Victorian của Anh. Bộ mặt sống động, đa dạng, giao thoa giữa nét cũ và mới, phố xá thay đổi kiểu cách khiến du khách không nhàm chán, đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác, phải chăng đó là nét hấp dẫn của phố cổ Montréal khiến nơi đây không bao giờ vắng bóng du khách.
Từ trên đồi xuống con đường một chiều Avenue Du Parc sau khi gặp Rue Shebrooke đổi thành Rue De Bleury. Sau khi đi phía dưới xa lộ 720 Autoroute Ville Marie, chúng tôi rẽ trái vào đường Rue Notre Dame là tới vương cung thánh đường Notre Dame Basilica tức nhà thờ Ðức Bà tọa lạc trong một khu phố rất gần bến cảng Montréal.
Notre Dame Basilica
Tiếng Pháp gọi vương cung thánh đường Ðức Bà là “La Bisilique Notre Dame”, nhà thờ kiểu Gothic có hai tháp chuông đối xứng nhau tọa lạc tại số 110 Notre Dame Street West phía trước là công trường Place d'Armes có tượng đài của người khai sáng thành phố là Maisonnauve. Là một trong những nhà thờ nổi tiếng vì tính cách lịch sử cũng như kiến trúc đồ sộ nhưng cân xứng hài hòa. Bên trong nhà thờ rộng lớn, trần cao có màu xanh lục đậm với những ngôi sao mạ vàng lấp lánh, phần còn lại trong nhà thờ với nhiều màu sắc khác nhau so với những nhà thờ cổ khác toàn màu xám hay trắng của đá. Nhà thờ còn có hàng trăm bức tượng, phù điêu bằng gỗ điêu khắc công phu cũng như các kính màu (stained glass) thông thường vẽ những cảnh trong thánh kinh, ở đây ghi lại những biến cố tôn giáo gắn liền với lịch sử của thành phố Montréal. Một vật quý báu khác là dàn phong cầm của các sư huynh dòng Casavant rất đồ sộ gồm 4 bàn phím (keyboards) với 9,000 ống kim khí (pipes) thanh âm. Âm thanh của dàn phong cầm không dùng máy khuếch âm vẫn dìu dặt thánh thoát vang rền, khắp nhà thờ đều nghe rõ.
Lịch sử của vương cung thánh đường Ðức Bà gắn liền với lịch sử Montréal: năm 1657 phái bộ truyền giáo Thánh Sulpice đến Ville Marie và ở lại đến năm 1840. Phái bộ truyền đạo cho thổ dân, đem ánh sáng văn minh để cải tiến đời sống của họ và thành lập họ đạo. Một nhà thờ lấy tên thánh là Mary và được xây trên mảnh đất này vào năm 1672, nhà thờ là nơi đặt văn phòng chánh tòa của Giáo Phận Montréal từ năm 1821. Năm 1824 giáo xứ quá đông phải xây nhà thờ mới rộng lớn mới có đủ chỗ cho việc hành đạo nên giao cho ông James O'Donnell người theo giáo phái Protestant đến từ New York. Ông ta trước khi chết cải đạo sang Công Giáo La Mã để được chôn dưới hầm nhà thờ và là người duy nhất xác được chôn ngay trong nhà thờ. Tòa nhà chính nhà thờ hoàn tất năm 1830 nhưng hai tháp chuông mãi đến 1843 mới xong và là nhà thờ lớn nhất trên lục địa Bắc Mỹ. Trang trí bên trong nhà thờ là một công trình chi tiết mất nhiều thời gian do Victor Bourgeau đảm trách từ 1872 đến 1879 và toàn thể nhà thờ hoàn tất năm 1888. Nhà thờ được nâng lên hàng Vương Cung Thánh Ðường (Basilica) bởi Ðức Giáo Hoàng John Paul II vào ngày 21 Tháng Tư 1982 nhân dịp Ðức Giáo Hoàng viếng thăm Canada. Nhà thờ hàng năm vào dịp Lễ Giáng Sinh có truyền thống tổ chức một buổi thánh ca hát với dàn phong cầm vĩ đại. Vào viếng nhà thờ phải chịu lệ phí là 5 đồng Canada chỉ trừ khi tham dự thánh lễ.
Trên con đường Rue Notre Dame trước nhà thờ thỉnh thoảng trông thấy một chiếc xe ngựa chở du khách chạy ngang khua những tiếng lọc cọc trên đường phố. Thường là ngựa bạch rất to lớn vạm vỡ và người nài ngựa là một thanh niên áo sơ mi trắng, quần đen lịch sự. Bến xe ngựa ở trước tòa án thành phố (Palais de la Justice), từ nhà thờ Notre Dame đi về hướng Ðông Bắc đến góc đường Saint Laurent sẽ gặp bến xe ngựa. Du khách có thể lên xe ngựa dạo quanh khu phố cổ, chuyến dạo chơi cũng rất thích thú nhưng giá không rẻ chút nào: 40 tiền Canada cho nửa giờ, còn một giờ là 65 đô la. Ðường Saint Laurent nếu đi ngược trở lên về hướng Tây Bắc sau khi qua khỏi xa lộ 720 sẽ gặp khu phố Tàu nhưng chúng tôi sẽ đến đó sau để ăn phở, bây giờ đi bộ về hướng Ðông thăm bến cảng Montréal, một bến sông nhưng ngày xưa tàu thuyền tấp nập không thua gì một hải cảng.
Bến cảng Montréal
Cảng Montréal nằm trên bờ sông St. Lawrence (tiếng Pháp là St. Laurent) là thủy trình quan trọng nhất của xứ Canada nối Ðại Ngũ Hồ trên đất Mỹ với 3 thành phố lớn Canada và biển Ðại Tây Dương. Vào thế kỷ 18, 19 bến cảng tấp nập những thuyền buồm chuyên chở hàng hóa giữa Canada và Âu Châu. Ngày nay những bãi chứa, kho hàng, quán rượu, những căn nhà của gia đình thủy thủ dọc theo bờ sông không còn thấy thay vào đó là những công viên cây cối, bãi cỏ xanh và những con đường dạo mát quanh co uốn khúc, là nơi thư giãn vui chơi của người dân đô thị Montréal. Những cầu tàu lớn đúc bằng bê tông vẫn còn nhưng vắng đi những thương thuyền mà thay vào đó là những du thuyền tư nhân kiểu nhỏ và thỉnh thoảng một du thuyền (cruise) vĩ đại ghé vào đưa hàng ngàn du khách lên bến ngao du tham quan thành phố. Sở dĩ bến tàu không còn nhộn nhịp nữa là vì ngày xưa thế kỷ 18, 19 Montréal là vùng đất mới chưa có nhà máy sản xuất nên phải nhập hàng hóa từ Âu Châu và xuất bến da và lông thú, thời kỳ đó người Âu rất ưa chuộng dùng làm y phục (ngày nay da và lông thú bị cấm). Trông bến tàu có vẻ vắng vẻ nhưng theo thống kê hàng năm xuất nhập 26 triệu tấn hàng phần lớn là ngũ cốc, đường, sản phẩm dầu lửa, máy móc và hàng tiêu dùng.
Ði dọc theo những công viên cạnh bờ sông, nhìn những bến tàu vắng vẻ đìu hiu một thời rất hưng thịnh, người hoài cổ mơ hồ đâu đây cảnh nhộn nhịp của bến nước năm xưa mà ngậm ngùi cho thời cuộc đổi thay:
“Bến xưa xe ngựa hồn thu thảo,
Ngõ cũ lâu đài bóng tịch dương”
(Thăng Long
Hoài Cổ - Bà Huyện Thanh Quan)
Chợ
Tàu Phố Việt ở Montréal
Chúng tôi lang thang trong
phố cổ Montréal nơi đây vẫn còn nhiều dinh thự,
nhà thờ, phố xá, bến sông, cầu tàu... theo
kiến trúc Pháp một thời nguy nga, người qua nhộn nhịp nay
chỉ là di tích lịch sử, tường xám mái
ngói rong rêu bên những con đường lát
đá quanh co nhỏ hẹp. Montréal có phong cách
Âu Châu trên từng góc phố, quán
cà phê, những cỗ xe ngựa lọc cọc trên đường
và những cô thiếu nữ nhỏ nhắn, vui tươi, phảng phất
nét đằm thắm dịu hiền của người Á Ðông.
Nhà Thờ Notre Dame
de Bonsecours
Phía Bắc của bến
cảng có nhà thờ Notre Dame de Bonsecours, nhà thờ
không lớn nhưng rất cổ xưa được xây từ năm 1771 trên
nền một nhà nguyện bị thiêu rụi. Ðây là một trong những
nhà thờ được xây đầu tiên ở Montréal khi
người Pháp sang truyền đạo, đem nền văn minh Âu Châu
khai phá các bộ lạc sơ khai ở miền Tân Thế Giới.
Nhà nguyện bằng đá đầu tiên do bà Marguerite
Bourgeoys là một bà giáo người Pháp vận
động với chính quyền Pháp xây dựng vào năm
1655. Năm 1673 nhân chuyến trở về Pháp bà Bourgeoys
mang sang một tượng Ðức Mẹ bằng gỗ tên là “Our Lady of
Good Help” để đặt trong nhà nguyện. “Our Lady of Good Help”
(tiếng Pháp “Notre Dame de Bon Secours”). Người Trung Hoa khi
sang đất mới thường xây chùa để thờ Bà Thiên
Hậu thì người Pháp cũng vậy, xây nhà nguyện
thờ Ðức Bà Hằng Cứu Giúp là bà
thánh giúp họ trong những lúc gian nan hiểm
nghèo như những chuyến vượt biển. Nhà nguyện bị hỏa hoạn
thiêu rụi vào năm 1754 nhưng rất may bức tượng gỗ Ðức
Bà Hằng Cứu Giúp được mang ra kịp.
Sau khi người Anh chiếm Montréal
từ tay người Pháp trong cuộc chiến giành thuộc địa giữa
Anh và Pháp (1754-1763), trên nền nhà nguyện
bị cháy hoang tàn là nơi những người lính
Iris và Scottland theo Công Giáo đến dự lễ những
ngày Chủ Nhật. Trong thời gian này họ vận động ngân
quỹ để xây nhà thờ mới Saint Patrick là giáo
xứ đầu tiên ở Montréal và năm 1771 nhà thờ
Notre Dame de Bon Secours được xây lại. Vào thế kỷ 19 nhà thờ trở
nên đông đảo khách hành hương cầu nguyện
trước tượng Ðức Bà Hằng Cứu Giúp nhất là những
thủy thủ sau khi đến bến Montréal cầu xin được trở về
bình an. Năm 1849 Tòa Giám Mục Montréal
trao tặng nhà thờ tượng Ðức Mẹ Ðồng Trinh Như Ngôi
Sao Biển để đặt trên tháp chuông nhìn ra hải
cảng từ đó nhà thờ được dân chúng gọi
là “Nhà thờ của dân đi biển.” Hiện nay nhà
thờ cũng là nhà bảo tàng của nữ thánh
Marguerite Bourgeoys vì dưới hầm mộ nhà thờ là nơi
an táng bà giáo người Pháp cũng như những
di tích về nhà nguyện đổ nát trước đó.
Ðịa chỉ nhà thờ là
Bonsecours Market
Ngay cạnh phía Nam nhà thờ
Bonsecours là một tòa dinh thự hai tầng to lớn với
mái vòm hình bán cầu như điện Capitol
tòa nhà lập pháp bên Mỹ. Bên
ngoài hoành tráng bề thế như vậy nhưng tòa
nhà lại là một... ngôi chợ. Ðó là
Bonsecours Market bên trong rất nhiều cửa hàng buôn
bán đồ cổ, quà kỷ niệm, vật dụng trang trí, tranh
nghệ thuật, quán cà phê, nhà hàng
v.v... Thật ra tòa nhà chợ
được khánh thành vào năm 1847 đầu tiên
là tòa nhà Lập Pháp của Canada vì
lúc đó Montréal là thủ đô, sau
đó trở thành Tòa Thị Chính thành phố
Montréal (1852 đến 1878). Những năm đầu 1900 tòa
nhà đã trở thành chợ với những gian hàng
buôn bán bên trong và tràn cả ra
phía ngoài như công trường Champ de Mars. Chợ
đã bị hỏa hoạn nhiều lần như các năm 1891, 1948 và
1954. Trong trận cháy 1948 mái vòm không
còn nữa nhưng vẫn hoạt động thương mại cho đến năm 1963
thì đóng cửa hẳn vì ngôi chợ mới khác
được xây ở về phía Bắc thành phố. Năm 1964 nhằm
trùng tu lại khu phố cổ, chợ Bonsecours được tô điểm lại
mặt tiền, xây lại vòm mái bên trên bằng
kim loại theo đúng kiểu ngày xưa và tăng cường
vững chắc bên trong bằng bê tông cốt sắt. Tòa
nhà được ngăn ra thành nhiều văn phòng công
sở. Năm 1976 mái vòm lại bị cháy thêm một
lần nữa và được xây lại năm 1978. Năm 1990 các
công sở nhà nước rời khỏi tòa nhà trả lại
ngôi chợ để dùng vào tiện ích công
cộng và từ 1996 việc buôn bán được tái lập,
tầng dưới là các gian hàng bán tranh, sản
phẩm nghệ thuật và các món đồ thủ công, tầng
trên là những gian phòng đa dụng rộng lớn. Năm 2001
đến 2004 ngôi chợ được chỉnh trang toàn bộ, một lần nữa
trở thành một thương xá lớn. Chợ Bonsecours là một
trong những địa điểm được du khách viếng thăm, ăn uống nhiều
nhất ở Montréal.
Chợ Tàu đường Saint Laurent
Từ chợ Bonsecours chúng tôi
đi về hướng Nam và rẽ phải vào đường Boulevard Saint
Laurent, qua khỏi xa lộ 720 thì đụng phải cổng chào theo
kiểu Trung Hoa là lối vô khu chợ Tàu. Phố xá
hai bên đường Saint Laurent là những dãy phố lầu
cất sát nhau, có những căn đến 4, 5 tầng nhưng
trông có vẻ cũ kỹ với tường gạch đỏ. Vì thời tiết
thường lạnh nên các cửa hàng trong khu phố
Tàu này đều đóng kín cửa, người mua cứ tự
nhiên đẩy cửa bước vào trong để mua sắm hay ăn uống.
Ðầu tiên về phía thương mại của người Việt thấy
có tiệm thuốc Tây của nữ dược sĩ Tu Quan Tu bên phải
và Phở Việt Nam bên trái, kế đến là Phở
Cali, Phở Bằng New York, Phở Bắc, tiệm thuốc Bắc Quốc Tế, tạp
hóa Kiên Vinh, Thuận Phát, Tân Nam. Gần cổng
chào phía Bắc là Phở Saigon, Hoàng Oanh
Sandwich và tiệm băng nhạc Hải Âu. Xen kẽ là những
nhà hàng, tiệm thuốc Bắc, tạp hóa của người Hoa
cũng là những căn phố 1, 2 căn như các tiệm người Việt,
không thấy những chợ thực phẩm lớn như ở Toronto hoặc California.
Giữa khu chợ Tàu có con đường
nhỏ xuyên ngang Rue de la Gauchetière không cho xe
cộ lưu thông mà chỉ dành cho người đi bộ, thấy du
khách mua sắm, dạo chơi rất đông cũng như có nhiều
nhà hàng Tàu trên con phố nhỏ đó.
Chúng tôi ăn trưa trong
tiệm Phở Bắc vì thấy tiệm này rộng rãi hơn
các tiệm phở khác. Bảng hiệu bên ngoài tiệm
đề bằng tiếng Pháp “Specialite Soupe Tonkinoise” (Súp đặc
biệt Bắc Phần). Phở ở đây nấu theo khẩu vị của người Hoa
không có gia vị trái hồi, giá mỗi tô
7.50 đô la Canada, cũng có dĩa giá sống và
rau húng quế kèm theo. Ăn phở xong theo đại lộ Boulevard
Saint Laurent chúng tôi đi về hướng Bắc, qua khỏi cổng
chào ở ngã tư Blvd. St. Laurent và Blvd.
René Lévesque là hết khu Phố Tàu và
bắt đầu vào phố Tây. Theo cháu tôi ở
Montréal cho biết con đường St. Laurent ngày xưa
là con đường huyết mạch và người dân
Montréal gọi là Main Street như trong các
thành phố bên Mỹ. Trên
đường này rất nhiều nhà hàng, hộp đêm
và những tiệm tạp hóa bán thức ăn các nước
Ðông Âu như các loại phó mát,
xúc xích, gia vị ớt cay của Hungary và nhiều nước
khác nữa. Ðường St. Laurent nằm hơi xiên nhưng tạm gọi
là nằm theo hướng Bắc Nam, chia thành phố ra làm
hai vùng: vùng phía Tây nói tiếng Anh
và vùng bên Ðông nói tiếng
Pháp. Càng đi về hướng Bắc phố xá có vẻ
khang trang, mới mẻ hơn cũng là nơi quy tụ dân tứ xứ về
đây lập nghiệp hơn 100 năm về trước như cộng đồng người Do
Thái, Trung Hoa và Ý, sau đó là
người Bồ Ðào Nha, Hy Lạp, Á Rập, Haiti v.v...
Trên đường có những khu như Little Italy (giữa St. Zotique
và Jean Talon Street), Little Portugal quy tụ gần Duluth
và Rachel Street, khu quán ba và hộp đêm
(giữa Sherbrooke và Duluth St.). Ngoài ra còn
có khu “đèn đỏ” xưa nay các cô gái
kinh doanh bằng vốn... tự có ở góc đường St. Laurent
và St. Catherine và trong những năm qua (2007-2008)
thành phố đã chi ra ngân khoản 167 triệu đồng để
thay đổi bộ mặt khu này với tên mới là “Quartier
des Spectacles” có nghĩa là “khu cảnh quan đẹp mắt”! Không
biết có đẹp thật hay không?
Ðường Saint Catherine
Nhân đi ngang đường St. Catherine,
cần nói thêm đây cũng là con đường thương mại
chính của thành phố, kéo dài từ Tây
sang Ðông, bắt đầu từ thành phố Westmount nơi
góc đường Claremont và De Maisonnauve, con đường đi
xuyên ngang quận Ville Marie và chấm dứt ở đường Notre
Dame East. Ðường Saint Catherine chạy song song với khu phố lớn
nhất của Underground City nơi phía dưới của những cao ốc văn
phòng ăn thông với khu phố buôn bán xây
trong lòng đất, rất tiện lợi cho dân chúng mua sắm
trong mùa Ðông nhất là dịp Noel. Nên nhớ
mùa Ðông Montréal còn lạnh hơn Moscow
và St. Peterburg nên mỗi khi viếng Montréal
vào mùa Ðông, du khách nên trang
bị đồ ấm giống như đi... trượt tuyết. Ðường Saint Catherine cũng
là thiên đường của quý phụ nữ thích mua sắm
hay chỉ mua sắm bằng mắt qua tủ kính vì hai bên
đường là những thương xá lộng lẫy như Eaton's, Hudson's
Bay, Simpson's, Dupuis Freres v.v...
Saint Catherine còn là con
đường văn hóa nghệ thuật với nhiều rạp hát, thính
đường hòa nhạc và rạp chiếu phim quy tụ gần khu phố
Quartier des Spectacles xưa kia là khu giải trí về
đêm hay còn được gọi là “khu đèn đỏ.”
Ngày nay các hoạt động chợ tình đã giảm,
chỉ còn những hộp đêm thoát y (strip clubs) như
Supersexe, Le Vieux Four, La Calèche du Sexe. Ðặc biệt hơn là con đường đi ngang
qua làng... Gay (Gay Village) ở về cuối phía
Ðông của khu downtown, đoạn giữa Saint Hubert và
Panineau. Với nhà ga xe điện ngầm Beaudry có mặt tiền
trang trí bằng cầu vòng (rainbow) ngũ sắc, du
khách tới khu này rất thuận tiện bằng đường xe điện
màu xanh “Green Line.” Mùa Hè từ giữa Tháng
Năm cho tới giữa Tháng Chín, con đường Saint Catherine ở
khu Làng Gay này đóng lại không cho lưu
thông mà chỉ dành cho khách bộ hành
để các cửa hàng bày ra buôn bán
trên vỉa hè và các quán ăn kê
bàn ra tận ngoài đường. Mùa Hè nơi
đây cũng có nhiều lễ hội, diễn hành của cộng đồng
đồng tính. Ngoài các khu thương mại, giải
trí, đường Saint Catherine còn là con đường đại
học với nhiều trường nổi tiếng như Concordia University, McGill
University, Université du Québec à
Montréal, Dawson College và La Salle College.
Sau một ngày rong ruổi thăm viếng
khu Phố Cổ, Phố Tàu, Phố Trong Lòng Ðất (Underground
City) toàn là cuốc bộ và đi Métro,
chúng tôi cũng đã mệt đừ nhưng rất vui vì
khám phá một thành phố Pháp trên lục
địa Bắc Mỹ với nhiều di tích lịch sử, thời người Âu sang
truyền đạo trên những vùng đất mới xa xôi, nhận thấy
có những điểm tương đồng với lịch sử Việt Nam chúng ta. Chúng tôi trở về khách sạn
Quality Inn trên đường Crésent. Chiều xuống khu phố đường
Crésent rất đông vui, tấp nập du khách thường từ
bên Mỹ sang vì Montréal chỉ cách New York
khoảng 385 miles (619 km) không mấy xa xôi, lái xe 7
tiếng là tới. Ðầu con đường hướng Bắc nơi giao nhau với đại
lộ Sherbrooke là ngôi nhà thờ Erskine bằng
đá cổ kính bên cạnh phía trái
là nhà Bảo Tàng Nghệ Thuật (Musée des Beaux
Arts). Xuống hướng Nam rất nhiều nhà hàng ăn uống,
các quán rượu, hộp đêm đông nghẹt du
khách như Troika Restaurant & Bar, Restaurant L'Autre
Saison. Café Testarossa, Light Ultra Club, nhà
hàng Lebanese Boustan, Hard Rock Café, Café Via
Crésent, Restaurant Casa Pino, ngang khách sạn Quality
Inn có Hurley Irish Pub. Restaurant Shehrazad, Bistro Le
Thé Au Logis v.v...
Buổi tối chúng tôi la
cà dạo phố trên con đường đông vui du khách
Crésent này và ăn chiều chia tay với mấy đứa
cháu ở Montréal trong nhà hàng Havana với
các món ăn Cuba. Sau đó trở về khách sạn
lấy xe đưa hai đứa cháu về nhà ở gần ga Métro Jean
Talon phía Bắc Mount Royal. Con đường không xa khoảng 7 km
nhưng qua các khu phố nhiều đèn xanh đèn đỏ, lưu
thông không được mau nhưng là dịp quan sát
phố xá, khu dân cư Montréal. Downtown không
có nhà riêng biệt thự với sân trước vườn sau
như ở Cali mà là những căn phố chung cư cất liền nhau
chung vách, mặt tiền nhà quay ra đường. Không
có ga ra đậu xe ở mặt tiền như bên Mỹ (nếu có xe
thì đậu dọc theo hai bên đường, đường nhỏ nên thường
một chiều). Ở đây nhà nào cũng có lầu
và cầu thang lên lầu xây phía trước
nhà (vì là một apartment riêng) nên
trông rất lạ. Nhiều nơi phía dưới là một căn phố
buôn bán đóng kín cửa, phía
trên có cầu thang lên là nhà ở.
Ở ngã tư Jean Talon và
Saint Denis là nhà ga Métro Jean Talon, một điều
thật ngạc nhiên là trên đường Saint Denis rất nhiều
cửa hàng thương mại của người Việt Nam, có tiệm
bách hóa như chợ nhỏ, nhà hàng ăn uống,
tiệm phở, quán cà phê, phòng mạch bác
sĩ. Khu thương mại Việt Nam ở đây không tập trung một chỗ
mà nằm rải rác xen lẫn với các tiệm của các
cộng đồng thiểu số khác. Theo
cháu tôi cho biết có khoảng 100 cơ sở thương mại
Việt Nam rải rác trong vùng Jean Talon và St.
Denis này, gia đình cháu tôi cũng thường mua
thực phẩm Việt Nam ở đây chứ không xuống chợ Tàu St.
Laurent ở phố cổ Ville Marie.
Sáng mai chúng tôi
giã từ Montréal, thành phố Pháp trên
lục địa Mỹ Châu để đi New Haven (thuộc Connecticut) gần New York
là nơi hai đứa cháu tôi định cư. Tháng Ba
năm 1979 từ trại tỵ nạn Songkhla gia đình tôi cùng
hai đứa cháu này tất cả là 7 người sang định cư ở
New Haven do phi hành gia Trịnh Hữu Châu bảo lãnh.
Sau 3 tháng đi làm ở đây vì thời tiết lạnh,
tôi dọn về Cali và hai cháu này ở lại cho
đến ngày nay. Vì vậy chuyến trở lại New Haven có
trường đại học Yale nổi tiếng lần này như trở về chốn cũ 30 năm
trước, tôi sẽ thăm lại căn nhà năm xưa nơi ghi lại nhiều
kỷ niệm những ngày tháng đầu tiên trôi nổi
trên xứ người:
“Em có nhớ căn
nhà xưa bên khu vườn cải
Nơi những sớm mai nằm nghe
nắng giòn trên mái
Ở đó có
những lũ sên bò quanh
Những vết nứt rêu
tường xanh
Có giếng nước soi
trời trong
Ở đó có
lá cuốn rơi ngoài sông
Có gió
mát đêm bình yên
Có những tiếng
chuông gần lắm
Pha hòa tiếng cầu
kinh...”
(Căn Nhà Xưa -
Nguyễn Ðình Toàn)