Ký sự du lịch Trung Quốc
Bài 10: Cung Điện Mùa Hạ
Trịnh
Hảo Tâm
Cung
Ðiện Mùa Hạ (Summer Palace) là một quần thể tập hợp những kiến trúc
tiêu biểu cho nghệ thuật cổ của Trung Hoa bao gồm những đền đài miếu
mạo, núi đồi, ao hồ và vườn cảnh nằm ở ngoại ô Tây Bắc và cách Tử Cấm
Thành Bắc Kinh 15 cây số (9.3 miles). Cung Ðiện Mùa Hạ là công viên
hoàng gia lớn nhất Trung Quốc được bảo tồn toàn vẹn sau nhiều biến cố
chiến tranh được bà Từ Hi Thái Hậu chọn làm nơi nghỉ ngơi hưởng thụ
cuộc sống xa hoa vật chất. Cung Ðiện Mùa Hạ là điển hình của vườn cổ
Trung Hoa được Tổ Chức Văn Hóa Thế Giới của Liên Hiệp Quốc (UNESCO) năm
1998 xếp vào loại di sản văn hóa thế giới.
Ngày 11 Tháng Mười 2005 buổi sáng
chúng tôi ra Quảng Trường Thiên An Môn để vào viếng Tử Cấm Thành nơi
hai triều đại Minh và Thanh đóng đô cai trị toàn nước Trung Hoa rộng
lớn suốt gần 500 năm từ đầu thế kỷ 15 đến đầu thế kỷ 20. Sau đó đi ăn
trưa trên tầng lầu thứ mười mấy của một tòa nhà cao tầng mà ông Lương
Kiện hướng dẫn viên đoàn du lịch chúng tôi cho biết thuộc Sở Văn Hóa
Thành Phố Bắc Kinh. Ông nói rằng nhà hàng thường phục vụ cho những quan
chức nhà nước trong bộ máy chính quyền Bắc Kinh đến ăn trưa nên họ
không cho chụp hình. Khi chúng tôi dùng thang máy để lên thấy nhà hàng
đã đông khách, các cô tiếp viên trẻ đồng phục đứng đầy chỉ dẫn mọi thứ.
Người Trung Hoa bao giờ cũng biết hưởng thụ nhất là trong vấn đề ăn
uống từ Từ Hi Thái Hậu với món óc khỉ cho đến Mao Trạch Ðông hô hào
cách mạng thắt lưng buộc bụng, chống phong kiến xa hoa lãng phí nhưng
suốt ngày đêm toàn là cao lương mỹ vị từ trứng cá Nga Xô, bò non Thanh
Hải, xì gà Cuba, rượu ngon Pháp Quốc nên mặt lãnh tụ lúc nào cũng tròn
đầy, hồng hào béo tốt. Nay đến thế hệ thứ 3 các quan chức Bắc Kinh cũng
có nơi ăn riêng trên lầu cao, cỗ bàn mười mấy món cách biệt với nhân
dân nông thôn nhất là vùng Trịnh Châu tỉnh Hà Nam đêm nay tôi sẽ tới
suốt đời chỉ biết ngô khoai và nhiều gia đình còn sống trong hang. Có
thể quan chức ăn trưa nơi đây viện dẫn rằng câu lạc bộ này kín đáo để
họ vừa ăn vừa bàn chuyện nội bộ hay sắp đặt thảo luận trước những kế
hoạch chương trình cho cơ quan nhưng cũng có thể là nơi hò hẹn tình
nhân mà “sư tử Hà Ðông” không bao giờ lên được!
Rời cao ốc của Sở Văn Hóa chúng tôi
lên xe để đến Cung Ðiện Mùa Hạ. Xe chạy trên xa lộ một quãng ngắn và ra
khỏi xa lộ đi vào vùng ngoại ô Bắc Kinh ít cao ốc, nhà cửa xưa cũ vách
xây bằng gạch nung không tô bên ngoài, mái ngói âm dương được tô điểm
hoa văn nơi 4 góc. Trời nhiều mây có vẽ sắp mưa nhưng cuối cùng chỉ lất
phất những hạt mưa Thu. Phía trước cổng khu Cung Ðiện Mùa Hạ xe buýt
đậu rất đông và du khách địa phương tấp nập cười nói ồn ào. Nơi bãi đậu
xe có nhiều mương nước được rào lại bằng rào lưới sắt nhưng dưới mương
giấy rác, bao ny lông, lon nhôm bỏ đầy trông mất thẩm mỹ một chốn du
lịch nhiều khách ngoại quốc!
Nơi khu Cung Ðiện Mùa Hạ ngày nay
lui ngược thời gian vào thế kỷ 12 khoảng năm 1115 đến 1234 sau khi nhà
Kim dời đô đến Yên Kinh (tức Bắc Kinh bây giờ) thì cho đào một hồ lớn
để chứa nước mưa cho kinh đô dùng. Hồ được đặt tên là hồ Thanh Thủy và
nhà Kim thiết lập một hệ thống dẫn nước từ trên núi Kim Sơn cạnh đó
xuống hồ. Ðến đời Nguyên đầu thế kỷ 13 đổi tên núi Kim Sơn thành núi
Ung Sơn và hồ Thanh Thủy thành hồ Ung Sơn lý do có lẽ muốn bỏ chữ Kim
mang tên triều cũ. Ðời nhà Minh từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 17 cho xây ngôi
chùa lớn trên núi Ung Sơn. Ung có nghĩa là cái chum đựng nước. Ðến đời
nhà Thanh lúc thịnh trị khoảng năm 1750 vua Càn Long học theo Hán Vũ Ðế
cho đào rộng thêm hồ và đổi tên thành hồ Côn Minh với diện tích là 220
mẫu chiếm 3/4 diện tích công viên. Mô phỏng theo cảnh Tây Hồ ở Hàng
Châu, hồ Côn Minh cũng có Trường Cầu là cây cầu vòng vua Càn Long cho
xây có 17 vòm, dài 150 mét, rộng 8 mét nối từ bờ ra đảo nhỏ có tên là
đảo Nam Hồ. Trên lan can hai bên thành cầu có những cột đá mà mỗi cột
là tượng của một sư tử bằng đá đại lý. Tổng cộng trên cầu có tất cả 544
tượng sư tử không con nào giống con nào. Trên đảo ngoài đình Quách Như
với phong cảnh rộng mở, tầm nhìn bao la còn có tượng con trâu bằng đồng
nằm nhìn ra hồ để trấn lụt. Tượng trâu đen láng hình dáng oai hùng
nhưng nằm có vẻ thư thái là một tác phẩm nghệ thuật giá trị.

Ngôi chùa trên núi Vạn Thọ soi bóng bên hồ Côn Minh
Năm 1750 để mừng thọ mẹ
60 tuổi vua Càn Long còn cho xây ngôi điện tại cổng chính vào công viên
ở phía Ðông đặt tên là điện Nhân Thọ và núi Ung Sơn ông đổi tên thành
núi Vạn Thọ. Vua Càn Long mở rộng khu đất, xây dựng cầu kiều, đền đài,
chùa chiền để biến khu quanh hồ thành một vườn thượng uyển để hoàng gia
thư giãn nghỉ ngơi. Ông mô phỏng những cảnh đẹp khắp nước và cho dân
công xây dựng nơi đây như cảnh Tây Hồ liễu rũ ở Hàng Châu, cảnh sông
nước ghe thuyền ở Tô Châu và đặt tên khu vườn cảnh là Thanh Di Viên.
Sau khi bị liên quân Anh Pháp đốt
phá năm 1860, năm 1888 thái hậu Từ Hi vốn thích xa hoa hưởng thụ và bà
thường ra đây nghỉ mát trong Mùa Hè nên lấy trong công quỹ trang bị Hải
Quân 300 triệu lượng tiền để xây lại công viên hoàng gia và đổi tên
thành Di Hòa Viên, có nghĩa là “di dưỡng song hòa” (song hòa có nghĩa
thiên hòa, địa hòa). Năm 1900 Bát Quốc Liên Quân sau khi chiếm thành
Bắc Kinh lại đốt phá và lấy đi những vật đáng giá nơi Di Hòa Viên. Từ
Hi Thái Hậu sau khi ẩn trốn ở Tây An trở về lại cho tu sửa lần nữa.
Những năm cuối đời Từ Hi Thái Hậu thường sống ở Di Hòa Viên để giải trí
nghỉ ngơi và điều hành việc nước. Trải qua hai triều vua Ðồng Trị và
Quang Tự, mọi quyền hành đều trong tay Từ Hi Thái Hậu, vua Quang Tự là
cháu của bà được xem như bị giam lỏng, tiếp các phái bộ ngoại giao cũng
ở đây cho đến Cách Mạng Tân Hợi 1911 do ông Tôn Dật Tiên lãnh đạo mới
chấm dứt nhà Thanh.
Di Hòa Viên một cách tổng quát là
gồm núi Vạn Thọ và hồ Côn Minh chiếm một diện tích là 294 mẫu (726.5
acres) trong đó có đến 3,000 kiến trúc như đền đài, tháp miếu, cổng
môn, hành lang và cầu cống.
Trên sân sau điện Nhân Thọ có một
tảng đá trắng hình thù đặc biệt dài khoảng 10 mét và cao hơn 3 mét, ông
Lương Kiện cho rằng: Tảng đá này do một tỷ phú muốn lập vườn hoa, non
bộ ở Bắc Kinh thuê người trục lên từ đáy Thái Hồ ở Tô Châu và khi đem
về tới Bắc Kinh thì ông bị khánh kiệt tài sản không còn tiền bạc để làm
vườn hoa nữa nên bỏ lăn lóc giữa đường. Trong khi bảng ghi chú dựng nơi
đây ghi rằng “Một vị quan nhà Minh tên Mi Wanzhong tìm thấy đá ở
Fangshan về phía Tây Nam của Bắc Kinh và khi chuyển được đá về nhà ông
ở Shaoyuan thì tán gia bại sản bỏ đá giữa đường người đi qua gọi nó là
“Khuynh gia thạch”. Một ngày vài cận thần tâu vua sự lạ, nhà vua đích
thân đi xem đá và rất ưng ý kiểu dáng của nó nên truyền đem về dựng
trước cung Từ Hy Thái Hậu và đặt tên nó là Thạch Lạc Thọ. Nhưng sau
thái hậu biết chuyện “đá phá sản” bà giận dữ quở trách. Ðám quan xúm
vào tâu rằng đá có hình nấm linh chi vốn là một thứ quý hiếm dùng làm
thuốc bổ mà thái hậu thường dùng, đá biểu tượng cho sự trường thọ. Bà
Từ Hi nghe vậy thích ý nên vui lòng để đá yên ở vị trí cho đến ngày nay.
Sau khi qua điện Nhân Thọ, chúng tôi
bước đi trong dãy hành lang một bên là hồ Côn Minh còn bên phải là núi
Vạn Thọ. Hành lang có mái che vừa làm lối đi vừa là nơi ngắm cảnh dài
728 mét, tổng cộng có 273 gian nối liền nhau. Trên những đà ngang sát
mái dọc suốt hành lang, Từ Hi Thái Hậu đã cho vẽ 8,000 bức họa danh lam
thắng cảnh hoặc những nhân vật dựa theo các tác phẩm văn chương cổ điển
như Tam Quốc, Tây Du Ký, Hồng Lâu Mộng v.v... Tôi thật sự không biết
các bức họa hiện nay nguyên thủy hơn 100 năm hay đã được vẽ lại nhưng
hiện tại thấy phai màu có nhiều nơi gỗ bắt đầu mục và người ta đang tu
sửa. Suốt hành lang dài gần một cây số mà cột kèo, đà gỗ nào cũng được
vẽ hoa văn trang trí chi tiết thật là một công trình tốn quá nhiều thời
giờ và công sức.

Hành lang với 8,000 bức họa trang
trí trong Cung Ðiện Mùa Hạ.
Chúng tôi đi hết dãy hành lang đến
một khu đất rộng nhiều miếu mạo, nơi đây sát bờ hồ và nhìn thấy một
kiến trúc lạ kỳ: nó như một ngôi đền có nét Hy Lạp màu đá trắng nhưng
phía trước như mũi tàu và đưa ra trên mặt hồ. Ông Lương Kiện cho biết
đó là chiếc thuyền đá mà người Âu làm tặng cho bà Từ Hi năm 1903. Bà Từ
Hi thích đi tàu dạo mát trên hồ nhưng chiếc tàu máy hơi nước người Âu
tặng bà, gia nhân không biết bảo trì nên thường hư không chạy được. Bà
nói rằng bà không cần tàu chạy, đậu một chỗ cũng được nên người Âu xây
cho bà chiếc thuyền đá này để bà chiều chiều lên hóng mát. Ði đến đây
chúng tôi đã “oải” nên góp tiền lại mỗi người 10 yuan để thuê thuyền
đưa chúng tôi về lại cổng chính nơi xe buýt đậu. Lúc đi thì đi bộ, lúc
về lại ngồi thuyền thật là “Ði và về không cùng nghĩa như nhau” (Tựa
một bài thơ của thi sĩ Du Tử Lê). Ngồi thuyền rồng chạy bằng máy cũng
vui, vừa hàn huyên vui như pháo nổ vừa nghe lao xao sóng vỗ mạn thuyền.
Trưa hôm nay trên mặt hồ nước bốc hơi nên lờ mờ như sương phủ, ngang
qua chiếc cầu cong 17 vòm chỉ thấy mơ hồ như một chiếc lược cong, nước
và trời đều một màu xám đục. Mùa Ðông mặt hồ nước sẽ đóng băng và người
ta sẽ chơi trượt băng trên mặt hồ. Tôi nhớ lại hồ trong công viên giải
trí Ðầm Sen ở Sài Gòn cũng giống hao hao như hồ này nhưng nhỏ hơn
nhiều. Trung Hoa cái gì cũng to lớn, đồ sộ trong khi ở Việt Nam cũng
lối kiến trúc hay vườn cảnh (landscape) đó nhưng tầm vóc khiêm nhường
nhỏ bé thí dụ như thành Huế cũng giống như Tử Cấm Thành cũng có Ngọ
Môn, Thái Hòa Ðiện, Hộ Thành Hào nhưng tầm vóc nhỏ hơn.
Trịnh Hảo Tâm
Trịnh
Hảo Tâm
(Cali ngày tháng Đông sang
Một năm sắp hết Hai Ngàn Lẻ Năm)
Cùng một tác giả đã phát
hành 2 quyển ký sự du lịch “Trên Những Nẻo Đường Việt Nam” và “Miền Tây
Hoa Kỳ” cả hai sách đồng giá 15 US$ mỗi quyển, do nhà sách Văn
Bút (714) 895-7080 phát hành và đã có bán tại các nhà sách. Ở xa
gởi ngân phiếu 15 US$ về tác giả, sách có chữ ký được gởi đến tận nhà:
TRỊNH HẢO TÂM
3683 Hawks Drive
Brea CA 92823
Ðiện thoại 714-528-1413 Nhà
909-395-2134 Sở
Email:
trinhhaotam@hotmail.com