Ký sự du lịch Trung Quốc
Bài 20: Hoa Thanh Cung ở Tây An
Trịnh
Hảo Tâm
Tọa lạc ở chân núi phiá Bắc
của ngọn Ly Sơn (Mt. Lishan) trong huyện Lâm Ðồng (Lintong) tỉnh Thiểm
Tây và cách Tây An 30 km (18.6 miles), Hoa Thành Trì là một quần thể
cung điện được xây từ thời Ðường Minh Hoàng (Tang Xuan Zong) (năm
685-762) cạnh dòng suối nước nóng Hoa Thanh là nơi nghỉ mát của Dương
Qúy Phi (Yang Qui Fei), một cung phi nhan sắc tuyệt vời mà Ðường Minh
Hoàng rất sủng ái. Vì say mê người đẹp mà vua Ðường ca hát đàn múa suốt
ngày, bỏ bê việc nước, khiến dân chúng lầm than, quốc gia lụn bại. Cuối
cùng ông bị phản tướng An Lộc Sơn rượt chạy vào đất Thục, triều thần
cùng bôn tẩu với ông buộc tội Dương Qúy Phi và anh em nàng thao túng
gây nên thảm cảnh này. Không cứu nàng được, ông đành nuốt lệ để Dương
Qúy Phi treo cổ trên cành cây bằng một dãy lụa trắng.
Rời khu lăng mộ Tần Thủy
Hoàng đã 3 giờ chiều, xe đưa chúng tôi đến Hoa Thanh Trì cách đó không
xa. Trước cổng tam quan dùng làm nhà bán và soát vé là bãi đậu xe,
những xe buýt đậu hàng dài và du khách ngoại quốc, du khách nội địa tấp
nập tới lui, đông vui như ngày hội. Trên cổng tam quan có bảng đề 3
chữ “Hoa Thanh Chi” do nét bút tài hoa của nhà thư pháp Trung Hoa
là Guo Moruo vẽ, du khách sẽ được chào đón bằng hai cây tùng
Cedar tàn rộng hình chóp nón. Qua khỏi cổng tam quan, du khách sẽ bắt
gặp một bức tranh khổng lồ điêu khắc trên đá bạch ngọc diễn tả lại cảnh
vua Ðường Minh Hoàng đang tiếp kiến Dương Qúy Phi trong buổi yến tiệc
với những cung tần mỹ nữ đang quây quần đàn hát ca múa vui chơi. Bức
tranh này do nhà danh họa Zhang Yiqian thích thú với chuyện tình của
vua Ðường mà cảm tác năm 1986 và được người ta phóng to trên đá bạch
ngọc thành một bức điêu khắc có kích thước chiều dài 9.15 mét và cao
3.6 mét.

Cửa vào Hoa Thanh Trì cung
điện nghỉ mát của Đường Minh Hoàng và Dương Qúy Phi
Qua khỏi vài ngôi điện du
khách sẽ đến một sân rộng nhìn ra toàn cảnh một hồ nước và bên kia hồ
là cung điện tường tím mái vàng và phía xa nữa hậu cảnh là ngọn núi Ly
Sơn dốc cao thẳng đứng xum xê cây lá. Hồ có tên là Cửu Long Hồ do người
đào rộng 5,300 mét vuông là diện mạo chính yếu của Hoa Thanh Trì. Bên
kia hồ là điện Hoa Thanh Cung (Feishuang Hall) ở phiá Bắc, điện Yichun
và Chenxiang ở cánh Ðông và Tây cũng như hành lang chín khúc và
chiếc thuyền rồng bằng đá trắng. Ðiện Feishuang huy hoàng là chốn khuê
phòng của Dương Quý Phi và Ðường Minh Hoàng. Cảnh nơi đây rất đẹp vì có
sơn thủy, lầu các, hoa lá hữu tình lại thêm tượng Dương Qúy Phi, một
trong bốn người đẹp Trung Hoa thời cổ, phô bày thân thể ngọc ngà đứng
bên bờ hồ miệng cười mời gọi. Dương Quý Phi ở đây bằng bạch ngọc là một
phụ nữ đứng tuổi có hơi đẩy đà da thịt, tóc dài được vấn lên và hững hờ
một dãy lụa mõng che phần thân thể cần che. Người ta chụp hình nơi đây
rất đông nhất là bức tượng Dương Quý Phi, cạnh bờ hồ lại có những hàng
liễu rũ và những chậu hoa cúc vàng.

Lầu Hoa Thanh Cung phiá sau
là núi Ly Sơn

Tượng Dương Qúy Phi đứng
bên bờ hồ
Ði thêm một đoạn nữa về
phiá Nam qua Thạch Long Thuyền du khách sẽ thấy khu hồ tắm hoàng gia,
hiện nay chỉ còn lại 5 hồ là hồ Hoa Sen, hồ Haitang, hồ Shangshi, hồ
Tinh Ðẩu và hồ Hoàng Tử. Hồ Tinh Ðẩu không mái che và bốn bề trống trải
người ta cho rằng là nơi tắm của nàng Dương Qúy Phi. Không biết ngày
xưa bể tắm nước nóng xa hoa lộng lẫy như thế nào nhưng bây giờ trông
giống như một lỗ cống khô cạn đen ngòm dưới đáy! Cạnh bể tắm Dương Quý
Phi là hồ tắm của vua Ðường Minh Hoàng lớn hơn hình hoa sen nên gọi là
hồ Hoa Sen có nước nhưng cũng thấy đen ngòm nước đọng ao tù!

Bê tắm ngày xưa của Dương
Qúy Phi
Cạnh đó phiá bên ngoài nơi
một bể nước có hình hoa sen là vòi nước nóng phun lên dẫn từ trên suối
xuống, người ta sắp hàng mua vé 1 yuan để được rữa tay, rữa mặt bằng
nước suối nóng có khoáng chất dưỡng da và trị nhiều thứ bịnh. Ai vào
rữa mặt cũng hớn hở vui cười, có người còn uống một ngụm. Có tiếng
người nói: “Biết đâu suối nước này Dương Quý Phi tắm rồi xả ra? ” Ai
nói gì thì nói thiên hạ vẫn nối đuôi vào rữa mặt!
Hoa Thanh Trì là cung nghỉ
mát của vua Ðường Minh Hoàng và Dương Quý Phi. Ðường Minh Hoàng là tên
mà người đương thời tặng cho vua Huyền Tôn vì triều đại của ông rất
sáng chói, rực rỡ nhất của Trung Hoa về văn thơ, ca nhạc, điêu khắc,
họa đều đua nhau phát triển trong khoảng 40 năm. Thơ Lý Bạch, Đỗ Phủ,
Bạch Cư Dị được dịch ra khắp các ngôn ngữ, những nét chữ tài hoa, tươi
mạnh trên các bức hoành, bức tranh, những tranh sơn thủy màu sắc nhã,
nét thật rõ, những tượng nhỏ bằng ngọc thạch... được trưng bày trong
các tàng cổ viện, các thư viện và được coi là những di sản quí báu của
nhân loại, tiêu biểu cho văn minh và văn hóa Trung Hoa. Tục lệ Tết
Trung Thu là do ông đặt ra sau một giấc chiêm bao mà ông cho rằng mình
lên cung trăng, vào nguyệt điện gặp Hằng Nga và xem các tiên nữ ca múa
khúc nghê thường.
Ông lên ngôi năm 713, ở
ngôi được 43 năm, là một vị hoàng đế rất tài hoa, yêu tất cả cái gì
đẹp, có nhiều nghệ sĩ tính, biết làm thơ, đặt ra ca nhạc, vũ múa nhưng
tầm thường về chính trị, có phần nhu nhược nên không được gọi là minh
quân. Nghệ sĩ tính đó làm cho đời ông về già thật bi đát, dân chúng lầm
than, quốc gia điêu tàn, và nhà Đường suy luôn, để rồi sau cùng bị
diệt. Huyền Tôn thời gian đầu ông siêng năng, trừ bỏ những tệ chính đời
Võ hậu, Vi hậu và được vài vị đại thần có tài giúp đỡ như Diêu Sùng,
Tống Cảnh. Họ khống chế bọn quá nhiều quyền hành trong triều đình và
thường can gián ông và ông cũng chịu nghe lời họ. Nhưng rồi ông hóa ra
chơi bời xa xỉ, tên hoạn quan Cao Lực Sĩ được ông sủng ái, nắm hết
quyền hành trong cung. Ở triều đình thì ông tin dùng Lý Lâm Phủ, một kẻ
vô sở bất vi, tìm cách đưa nàng Dương Ngọc Hoàn vào hầu ông. Ngọc Hoàn
vốn là dâu của ông, là vợ Thọ Vương Mạo, con trai ông. Nàng có sắc đẹp,
thông minh, được sủng ái nhất trong cung, làm cho ông say đắm, mắc tội
loạn luân, nặng gần bằng tội của Cao Tôn. Người ta gọi nàng là Dương
Quí Phi và chép đời nàng rất nhiều trong truyện và tuồng, người thì
thương cho cái chết của nàng, người thì trách nàng gây ra tất cả những
cảnh khổ ở cuối đời Huyền Tôn. Điều đó chỉ đúng một phần. Nàng đưa anh
ruột, Dương Quốc Trung, vô triều đình làm hữu tướng, cùng với Lý Lâm
Phủ quyết định mọi việc trong nước. Ba người em gái nàng, đều đẹp, lanh
lợi, khôn khéo, với hai người em trai nàng đều được phong tước, sống
một cách đế vương, có dinh thự, ngựa xe.
Thời đó bộ lạc Thổ Phồn
mạnh lắm, từ đời Võ Hậu thường vào cướp phá biên giới, có khi xâm lấn
nữa, triều đình phải chinh phạt nhiều năm, tốn kém khá nhiều. Một tướng
có tài cầm quân dẹp giặc là An Lộc Sơn (mẹ là người Đột Quyết,
cha là người Hồ) nên được kiêm chức tiết độ sứ (võ quan giữ một miền ở
biên cương) hai nơi. Lúc đó triều đình có hai phe, một phe thân Đột
Quyết gồm họ Lý (họ nhà vua), một phe của giới sĩ tộc, chống lại phe
trên. Lộc Sơn đứng về phe họ Lý, đúng hơn là muốn lợi dụng phe đó để
mưu đồ riêng cho mình. Hắn xin về làm quan ở triều để gây thế lực. Hắn
khéo phụng sự Lý Lâm Phủ và Dương Quí Phi, xin làm con nuôi Quí Phi, tự
do ra vào trong cung cấm, có nhiều hành động không tốt. Dương Quốc
Trung ngờ hắn có ý làm phản, tâu với Huyền Tôn, ông không nghe. Khi Lý
Lâm Phủ chết, Dương Quốc Trung mưu mô gạt phe họ Lý đi mà nắm hết quyền
hành, như vậy là chống với An Lộc Sơn. Lộc Sơn bèn cử binh làm phản,
đem bộ lạc và quân Khiết Đan, tất cả 15 vạn, từ Phạm Dương (nay ở Tây
Nam Bắc Kinh) kéo về Nam, không gặp một sự kháng cự nào cả (vì quân đội
các châu quận sau một thế kỷ hòa bình không biết chiến đấu nữa) chiếm
Hà Bắc, Hà Nam, hãm thành Lạc Dương (755) tự xưng là Yên đế (hoàng đế
nước Yên). Một đạo quân của triều đình do Quách Tử Nghi (người Trung
Hoa) và một đạo nữa do một tướng Đột Quyết cầm đầu xông ra chặn An Lộc
Sơn; đạo quân của Quách thắng, còn đạo quân kia có nhiệm vụ bảo vệ Tây
Kinh (Tràng An) thì thua, viên chỉ huy bị bắt. Lộc Sơn chiếm luôn được
Tràng An.
Huyền Tôn, Dương Quí Phi,
Dương Quốc Trung với 1.000 cấm binh phải bỏ kinh đô chạy trốn vào đất
Thục, miền Tứ Xuyên. Thái tử chạy về phía Tây bắc Thiểm Tây. Đường vô
Thục hiểm trở, bọn cấm binh chán nản, tới Mã Ngôi, tướng sĩ đều ta oán,
không chịu đi nữa. Họ nổi loạn, giết Dương Quốc Trung và hai người em
gái của Quí Phi, rồi hăng máu, đòi chém luôn cả Quí Phi nữa, cho rằng
mọi sự tại nàng và anh em nàng hết. Huyền Tôn đứt ruột mà không thể cứu
nàng được, đành để cấm binh buộc nàng phải tự treo cổ trên một cành cây
bằng một tấm khăn lụa trắng. Thật là một bi kịch chưa từng thấy trong
lịch sử, được Bạch Cư Dị chép lại trong bài Trường hận ca, và các văn
nhân thời sau đưa lên sân khấu. Đoàn vua tôi nhà Đường lủi thủi tiến vô
Thành Đô (Tứ Xuyên). Từ đó Huyền Tôn nhường ngôi cho con mà làm Thái
Thượng Hoàng, sống âm thầm cho tới chết.
Thái tử lúc đó ở Thiểm Tây,
lên nối ngôi, tức vua Túc Tôn, cùng với hai tiết độ sứ trung quân là
Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật, luyện binh để dẹp giặc. Ông sai sứ mượn
binh của nước Hồi Hột, sai Quách và Lý điều khiển. May sao, phía giặc
chẳng bao lâu có một nội loạn: Lộc Sơn bị con là Khánh Tự giết, quân
của Quách, Lý đại thắng, thừa thế thu phục lại được hai kinh đô Tràng
An và Lạc Dương. Một tướng của giặc là Sử Tư Minh về hàng, Khánh Tự như
cua mất càng, chạy trốn. Sử Tư Minh được Túc Tôn cho làm tiết độ sứ ở
Phạm Dương. Lúc đó Khánh Tự thất thế, xin Tư Minh che chở cho, bị Tư
Minh giết. Thấy thế của mình đã mạnh, Tư Minh tự xưng là hoàng đế nước
Đại Yên, lại đem quân chiếm Lạc Dương, không bao lâu lại bị con là
Triều Nghi giết.
Năm 762, Huyền Tôn và Túc
Tôn đều chết cách nhau ít tháng. Quân cứu viện của Hồi Hột (toàn là kị
binh) thắng được Triều Nghi, lấy lại Lạc Dương. Đại Tôn lên ngôi. Loạn
An, Sử (tức An Lộc Sơn và Sử Tư Minh) chấm dứt. Chỉ trong có 7 năm
(755-762) mà Trung Quốc bị tàn phá không tưởng tượng nổi. Sử chép dân
số giảm đi tới hơn 2/3, tức 53 triệu xuống còn 17 triệu. (Tài liệu tham
khảo từ Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê).
Trên ngọn núi Ly Sơn cây
cối um tùm có những hang động và một tòa lô cốt như tháp canh ngày xưa
xây bằng đá đó là Pháo Hỏa Đài. Cũng tại nơi đây trước Đường Minh Hoàng
hơn 1,500 năm, vào thời Đông Chu Liệt Quốc (thế kỷ thứ 8 trước Tây
lịch), Chu Ưu Vương vua thứ 12 vì mê nàng Bao Tự bị rợ Khuyển Nhung ở
phiá Tây vào chiếm kinh đô rồi giết. Tương truyền vào thời đó mỗi khi
có một rợ nào đến tấn công thì quân canh sẽ nổi lửa trên Pháo Hảo Đài
để các chư hầu gần đó tức thì đem binh về tiếp cứu. Bao Tự vì nhớ nhà
nên nét mặt lúc nào cũng ủ rũ, U Vương muốn thấy nàng cười nên bày ra
một kế là khi không nổi lửa lên trên Pháo Hỏa Đài, quân chư hầu vội
vàng tới, thấy tình hình yên ổn biết là bị gạt, xấu hổ và bực mình quay
về. Bao Tự thấy nét mặt thất vọng của họ mà cười lớn. U Vương thích lắm
nụ cười Bao Tự. Đến khi quân Khuyển Nhung tấn công thật, ông ta nổi lửa
lên thì không chư hầu nào tới cứu nữa! Cùng một nơi tại núi Ly Sơn này
mà U Vương chết vì nụ cười Bao Tự và Đường Minh Hoàng phải trốn vào đất
Thục vì quý phi họ Dương. Thật là những nhan sắc làm nghiêng thành đổ
nước! Bài học sờ sờ trước mắt đó mà sau này nhiều người vẫn còn dẫm lên
vết xe cũ!
Cũng tại Hoa Thanh Trì núi
Ly Sơn này xảy ra một câu chuyện lịch sử đó là Biến Cố Tây An. Năm 1935
Nhật Bản chiếm gần hết miền Hoa Bắc nên dân chúng chỉ mong chính phủ
Tưởng Giới Thạch đóng ở Nam Kinh và quân CS của Mao Trạch Đông đóng ở
Diên An đừng chống nhau nữa mà hợp tác để chống quân Nhật. Trương Học
Lương được Tưởng Giới Thạch phái lên đóng ở Tây An để bao vây quân CS.
Trương thấy quân đội CS thay đổi khẩu hiệu “Diệt Quốc Dân Đảng” thành
“Đoàn kết để diệt Nhật” hơn nữa thấy đoàn quân của họ ở Thiểm Tây, Cam
Túc còn sống sót sau cuộc vạn lý trường chinh tinh thần rất lên cao
hăng hái kháng Nhật. Trương Học Lương muốn thuyết phục Tưởng Giới Thạch
nên đoàn kết với CS để chống Nhật. Tưởng không chịu và ngày 7-12-1936
Tưởng cùng vài viên tướng và 200 vệ binh bay tới Tây An để dò xét tình
hình. Trương Học Lương thuyết phục Tưởng suốt 3 ngày mà không kết quả.
Đêm 11 tháng 12 Trương dùng 170,000 quân để bắt cóc Tưởng Giới Thạch
đang nghỉ đêm trong một ngôi chùa ở Tây An và vệ binh của ông ta bị
giết sạch. Sáng ngày 12 Trương Học Lương đem Tưởng về giam trên núi Ly
Sơn ở Hoa Thanh Trì. Tin đó làm náo động toàn quôc, người ta sợ ông bị
giết khiến Trung Quốc lại có nội chiến nữa. Bà Tống Mỹ Linh bay lên Tây
An để chịu chung số phận với chồng.
Tưởng bị giam 14 ngày.
Trong thời gian đó Chu Ân Lai từ Diên An đến bàn tính với nhóm Trương
Học Lương không nên giết Tưởng mà chỉ cần buộc Tưởng chấm dứt nội chiến
để cùng nhau kháng Nhật, thả hết tù chíng trị, nhất là những tù binh
CS. Tưởng đành phải hứa và họ thả ông ra. Ngày 26-12 hai vợ chồng Tưởng
bay về Nam Kinh. Trương Học Lương nhận lỗi đã không giữ kỷ luật, sẵn
sàng chịu tội và Tưởng đem Trương về giam ở Nam Kinh và đến 25 năm sau
mới thả ở Đài Loan!
Một điểm đáng nhớ là nhà vệ
sinh ở Hoa Thanh Trì mới xây lát bằng đá hoa cương sạch bóng, không một
mùi hôi và bên ngoài nhà vệ sinh là cửa hàng đồ lưu niệm bày trí rất
đẹp. Từ ngoài nhìn vào tưởng là cửa hàng hay một quán cà phê với bông
hoa cây cảnh chứ không ngờ là nhà vệ sinh công cộng. Tôi bầu chọn đây
là nhà vệ sinh sạch nhất trong chuyến du lịch Trung Quốc kỳ này. Nhìn
lên núi Ly Sơn thấy những xe chạy bằng dây cáp lên xuống trên ngọn núi,
có lẽ chở du khách lên thăm Pháo Hỏa Đài nơi Chu U Vương đốt lửa để
nghe tiếng cười của Bao Tự hay lên thăm pháo đài nơi giam Tưởng Giới
Thạch? Trước mặt tôi tượng đá Dương Quý Phi đứng bên bở hồ phô bày
đường nét và miệng vẫn điểm một nụ cười cho hậu thế.
Trịnh Hảo Tâm
(Cơn mưa tầm tã đầu Xuân
Rừng phong thay lá màu xanh
nõn nà)
Cùng một tác giả đã phát
hành 2 quyển ký sự du lịch “Trên Những Nẻo Đường Việt Nam” và “Miền Tây
Hoa Kỳ” cả hai sách đồng giá 15 US$ mỗi quyển, do nhà sách Văn
Bút (714) 895-7080 phát hành và đã có bán tại các nhà sách. Ở xa
gởi ngân phiếu 15 US$ về tác giả, sách có chữ ký được gởi đến tận nhà:
TRỊNH HẢO TÂM
3683 Hawks Drive
Brea CA 92823
Ðiện thoại 714-528-1413 Nhà
909-395-2134 Sở
Email:
trinhhaotam@hotmail.com