Ký sự du lịch Trung Quốc
Bài 22: Chùa Từ Ân nơi Tam Tạng trụ trì ở Tây An
Trịnh
Hảo Tâm
Tọa lạc về phiá Nam Tây An (Xian) và cách trung tâm thành phố
khoảng 4 km (2.49 miles), chùa Từ Ân khởi thủy được xây từ năm 648 sau
Công Nguyên là nơi tàng trữ kinh Phật do nhà sư Huyền Trang (Tam
Tạng) thỉnh về từ Ấn Ðộ. Năm 629 nhà sư Huyền Trang xuất phát từ Trường
An (tên của Tây An ngày xưa) theo con đường Tơ Lụa (con đường các
thương buôn đem lụa bán sang Tây Á) đi về hướng Tây xuyên qua sa mạc
gian khổ mất 16 năm, qua hơn 100 vương quốc, cuối cùng đến được Ấn Ðộ
là đất Phật sinh ra. Ông du khảo về đạo Phật, thuyết giãng, mang về
được 657 bộ kinh nguyên bản bằng tiếng Sanskrit và một số ngọc xá lợi.
Khi sư Huyền Trang trở về đã đến đời vua Ðường Cao Tông (Gaozong)
(628-683), nhà vua xây chùa để ông làm nơi dịch thuật kinh sách và đặt
tên chùa là Từ Ân để báo hiếu thái hậu mới vừa qua đời.
Sáng sớm ngày 15-10-05 chúng tôi di chuyển hành lý ra khỏi phòng để
nhân viên khách sạn đưa xuống xe buýt vì chương trình hôm nay sau khi
viếng chùa Từ Ân, bức tường cổ thành Tây An ở trung tâm thành phố đoàn
du lịch chúng tôi sẽ ra phi trường Tây An để bay xuống miền Nam thăm
thành phố Quế Lâm tỉnh Quảng Ðông. Ăn sáng xong là chúng tôi khởi hành
vào lúc 8 giờ, cô hướng dẫn viên địa phương nói còn sớm qúa chùa chưa
mở cửa nên chúng tôi lại đi...mua ngọc thạch! Ðây là lần thứ ba được
đưa tới cửa hàng bán ngọc thạch. Các bà các cô thì thích, còn bọn đàn
ông chúng tôi chỉ đi theo cho vui và thường “bàn ra” để các bà không
mua, đỡ tốn tiền. Có nhiều bà vàng trắng, hột xoàn, đá qúy xanh đỏ đeo
đầy tay, không ngón nào được ở không mà vẫn còn thích mua thêm. Tôi “cà
khịa” hỏi đeo ở đâu thì có bà cho biết là mua...cho con gái, cho con
dâu. Ðây là chủ trương của nhà nước, hễ đến địa phương nào là du khách
sẽ được đưa đi mua cẩm thạch. Vì có kinh nghiệm trong hai lần mua trước
nên các bà cho biết lần này mua được rẻ lắm, lại nữa hàng ở đây là
hàng..độc, chỗ trước không đẹp bằng! Lần nào tôi cũng thấy các bà vui
mừng hớn hở cho rằng rẻ qúa nhưng sau đó đến nơi khác thì thấy lần
trước mình mua hố cho nên ông Lương Kiện là hướng dẫn viên lâu năm cho
AV Travel ở Trung Quốc mới nói: “Càng mua càng hố, càng hố lại càng
mua!” Nhiều bà lên xe ngồi rồi, thấy tiếc không mua thì uổng, trở về
Phước Lộc Thọ làm sao được giá đó, nên nhảy xuống xe đi vào trả giá
thêm lên. Cô hướng dẫn viên không biết có được chia hoa hồng không
nhưng cũng chìu các bà tới bến, sẵn sàng chờ đợi và hăng hái vào trong
cửa hàng trả giá phụ!
Trên đường đến chùa Từ Ân tôi có dịp quan sát thành phố Tây An một thời
là cố đô của nhiều triều đại trước Công Nguyên. Ðường lộ, công viên,
cao ốc đang được xây dựng ở khắp mọi nơi, có những khu phố cổ mái ngói
cong tường vách loang lỗ bên cạnh những cao ốc hiện đại mới vừa hoàn
thành. Có một con đường chuyên bán những bộ phận của xe hơi như vỏ xe,
bình điện, máy xe và trong một tiệm thay bánh, vá vỏ xe cũng trang bị
máy nạy vỏ xe ra khỏi mâm cũng như ở Mỹ. Nhớ lại ở VN trước 1975 ở Hàng
Xanh hay Phú Lâm nhiều tiệm vỏ xe phải nạy bằng những dầm sắt rất khó
khăn nặng nhọc. Trước sân của một nhà hàng tôi thấy người ta tập trung
nhân viên lại từ những tiếp viên chạy bàn mặc đồng phục cho đến những
người nấu bếp mặc áo trắng, đội chụp trắng họp “giao ban” để ban giám
đốc kiểm điểm hay phổ biến những lời dặn. Họ đứng rất kỷ luật có hàng
ngủ như trong quân đội và cảnh này tôi thấy rất nhiều nơi ở Trung Quốc
vào buổi sáng.
Phiá Bắc khu chùa Từ Ân là một quảng trường lớn, hôm nay thứ bảy cuối
tuần người ta tập họp rất đông để giải trí vui chơi mà không phải tốn
tiền. Có một hồ nước lớn với hàng chục vòi đang phun nước lên cao và
ban đêm có đèn màu rọi vào những vòi nước nhảy múa theo điệu nhạc. Xe
chỉ ngang qua chứ chúng tôi không viếng nơi đây và theo tài liệu thì
đây là công viên văn hoá đời Ðường rộng 110,000 mét vuông thêm 20,000
mét vuông là “vườn cảnh bằng nước” (waterscape) trong đó có một khu
trưng bày những tượng điêu khắc chạy dài đến 200 mét. Phiá sau quảng
trường là tháp Ðại Nhạn 7 tầng của chùa Từ Ân cao vút lên trên không.
Xe buýt chúng tôi đậu trước cổng chùa, cũng giống như những đền đài
khác ở Trung Quốc, chùa Từ Ân cũng có cửa chính hướng về phiá Nam. Giá
vé vào thăm chùa là 25 yuan và muốn lên tháp Ðại Nhạn phải mua vé loại
30 yuan. Sau cổng là khoảng sân rộng trồng nhiều bông hoa, cây cảnh với
nhiều cây tùng Cypress và những cây hồng trái chín vàng, nơi đây có
quán giải khát, nhà bán sách vở, kinh kệ, xâu chuỗi hạt bồ đề, nhang
đèn, nhà vệ sinh công cộng. Nhiều người đứng chụp hình tháp Ðại Nhạn ở
trên sân này vì đến gần qúa sẽ không thấy được hết 7 tầng và ngọn tháp.
Tháp Ðại Nhạn (Big Wild Goose Pagoda) lần đầu được xây vào năm 652 do
lệnh của vua Ðường Cao Tôn sau khi xây chùa Từ Ân được 4 năm. Một
buổi sáng một đàn chim thiên di ngỗng trời bay ngang qua chùa và một
con rơi xuống chết, tin là do Phật trên trời gởi tín hiệu là đừng sát
sinh nữa nên các nhà sư trong chùa từ đó không ăn thịt nữa mà chỉ chay
trường bằng rau cỏ. Tháp được xây ngay tại nơi con ngỗng chết và được
đặt tên là tháp Ðại Nhạn. Tháp xây bằng gạch có hình vuông, nguyên thủy
có 5 tầng và sau xây thêm 2 tầng nữa, mỗi tầng có một cửa sổ nhỏ cho
mỗi mặt, hiện nay tháp cao 64.5 mét (211.6 feet). Bên trong có tất cả
245 bậc thang để lên tháp. Muốn lên tháp phải gởi đồ đạc, túi xách lại
có người giữ vì cho rằng tháp yếu, chỉ được đem theo máy ảnh và máy
quay phim mà thôi. Từ tầng cao nhất du khách có thể ngắm cảnh bao quát
thành phố Tây An.

Tháp Đaị Nhạn trong chùa Từ Ân
Qua khỏi tháp Ðại Nhạn là đến khu chùa Từ Ân là những dãy kiến trúc cũ
có, mới xây cũng có, hai bên có Tháp Chuông ở phiá Ðông và Tháp Trống
phiá Tây. Trong Tháp Chuông có quả đồng chung nặng 15 tấn được đúc năm
1548 dưới thời nhà Minh. Ngôi chánh điện là điện Mahavira có 3 tượng
Phật Thích Ca Mâu Ni bằng gỗ và 18 nhà sư trong đó có sư Huyền Trang.
Những điện bên cạnh trưng bày những bộ kinh Phật, những bức tranh khắc
trên gỗ ghi lại những hình ảnh nhà sư Huyền Trang đi Tây Tạng, Ấn Ðộ
thỉnh kinh.

Khuôn viên chùa Từ Ân
Trong Sử Trung Quốc của học giả Nguyễn Hiến Lê đã mô tả chuyến đi của
thầy Tam Tạng Huyền Trang như sau:
“Huyền Trang sinh năm 602 ở Hà Nam, năm thứ 3 đời Thái Tôn (629), một
mình qua sa mạc Qua Bích dài non 500 cây số, tới nước Cao Xương, được
vua nước đó rất trọng, rồi leo núi Thông Lãnh cao 7.200 thước trong dãy
Thiên Sơn, tiến theo đường chở lụa tới Thiết Môn Sơn một nơi vô cùng
hiểm trở. Từ đây ông theo hướng Đông Nam qua nhiều nước nhỏ, vòng qua
Đại Tuyết Sơn rồi vào Tây Trúc.
Ông thật là một nhà mạo hiểm, đời sau không chắc có ai hơn; lại có tinh
thần nhận xét của nhà khoa học, ghi rất kỹ và rất đúng những điều mắt
thấy tai nghe ở các nơi ông đi qua. Ông đi một vòng nước Tây Trúc, coi
hết các nơi có di tích của Thích Ca, lại ở hơn một năm tại chùa
Nalanda, một ngôi chùa lớn nhất, đẹp nhất mà cũng là một trường đại học
cổ nhất. Ông tả cảnh chùa đó, giọng bóng bảy như giọng thi sĩ Tràng An.
Ông học hết bộ Du Già Luận, học thêm triết lý Bà La Môn và Phạn Ngữ,
rồi đi chu du Tây Trúc tìm hiểu thêm các giáo phái khác: Thăm xứ
Bengale, tính qua đảo Tích Lan mà không qua được. Tới đâu ông cũng
thuyết pháp, được hoan nghênh, ai cũng muốn lưu ông lại. Lần về ông
theo một con đường khác, ghé nhiều nơi để giảng đạo.
Năm 645 ông tới Tràng An sau khi xa quê 16 năm, đi gần 30.000 cây số,
qua 128 nước, đem về được 657 bộ kinh, không kể nhiều vật quý khác.
Mới về nước được hơn một tháng, ông bắt đầu ngay công việc dịch kinh
đại quy mô và mải miết làm luôn 19 năm cho tới khi tắt thở. Ông tổ chức
một ban dịch thuật, mời các vị cao tăng thông cả Hoa ngữ lẫn Phạn ngữ
hợp tác. Công việc làm rất có phương pháp và kỹ lưỡng, soát đi soát lại
nhiều lần (coi bài Huyền Trang trong cuốn Ý chí sắc đá của tôi - Thanh
Tân 1971). Ông dịch những kinh khó nhất và chỉ huy việc dịch những kinh
khác. Tới năm 663 ông dịch được 600 quyển.
Ngoài ra ông còn cho hậu thế:
- Bản dịch Đạo Đức kinh ra tiếng Phạn để giới thiệu triết học Trung Hoa
với Ấn Độ.
- Bản dịch Đại thừa khởi tín luận từ Hoa ngữ ngược về Phạn ngữ. Nguyên
bản chữ Phạn của Ấn Độ đã thất lạc từ lâu, nhưng ở Trung Hoa còn giữ
lại được bản chữ Hán. Làm công việc đó ông muốn đền ơn những tôn sư và
bạn thân Ấn đã niềm nở dạy bảo, tiếp đón ông.
-Soạn một cuốn ngữ pháp Phạn, giản lược mà sáng sủa và đúng.
- Viết bộ Đại Đường Tây Vực Ký gồm 12 quyển chép những điều mắt thấy
tai nghe trong chuyến đi thỉnh kinh. Bộ này chứa những tài liệu rất quý
cho các nhà khảo cổ Ấn Độ và Trung Á sau này, được dịch ra nhiều thứ
tiếng: Anh, Pháp, Nga, Nhật, Đức... và đã giúp các học giả Ấn sửa lại
nhiều điều sai lầm trong lích sử của họ về thế kỉ VII.
- Công việc dịch kinh của ông chẳng những làm cho đạo Phật phát triển
mạnh ở Đông Á mà còn ảnh hưởng lớn đến ngôn ngữ và văn học Trung Hoa.
- Từ ngữ Trung Hoa đã giàu thêm được 3,5 vạn tiếng, căn cứ vào bộ Phật
giáo đại từ điển, có tiếng dịch âm tiếng Phạn như Nát bàn, sát na, phù
đồ; có tiếng dịch nghĩa tiếng Phạn như vô minh, nhân duyên, chân nhu...
Mà thêm được 3,5 vạn tiếng là thêm được 3,5 vạn ý niệm.
- Văn bạch thoại phát đạt vì lẽ khi dịch, người ta lựa những tiếng bình
dị cho dễ hiểu, do đó dùng bạch thoại xen với cổ văn; lại thêm vì là
kinh để tụng, cho nên phải chú trọng đến âm vận, và thứ văn đặc biệt đó
gọi là biến văn. Do ảnh hưởng của Phạn ngữ, biến văn không dùng hư từ,
đối ngẫu mà rất hay đảo trang.
- Văn nhân Trung Hoa ít tưởng tượng mà hay thuyết li, nhờ những truyện
tân kỳ trong kinh Phật mà bắt chước viết những truyện thần quái. Như bộ
Sưu thần ký, và những truyện Thủy Hử, Hồng Lâu Mộng sau này đều chịu
ảnh hưởng của các kinh Đại trang nghiêm, Hoa nghiêm, Niết bàn...
Huyền Trang tịch năm 664, một triệu người ở Tràng An và tứ xứ đi đưa
linh cữu ông.” (Ngưng trích dẫn)
Sau khi viếng chùa, xem qua những bộ kinh để trong tủ kính, thấy đa số
bộ kinh đều có vẻ mới, bộ kinh nguyên thủy do Tam Tạng mang về cách nay
hơn 1,300 năm trải qua nhiều thăng trầm chùa chiền bị đốt phá nên đã
thất tán. Phật giáo cực thịnh trong đời Đường do các vua sùng đạo nhưng
cũng có một ông vua cấm đạo là Võ Tôn đã ra lịnh cấm đạo từ năm 842 cho
là có hại cho văn hóa, quốc gia. Võ Tôn có thái độ cương quyết sau
nhiều triều đại chùa chiền khuynh đảo triều đình, là nơi các thương
buôn, quan lại giàu có cất giấu tài sản, cấu kết với tăng lữ mua một số
lớn đất đai (có sách nói bằng 2/3 tài sản quốc gia), nhiều chùa qúa
giàu còn cho vua vay tiền lại dung chứa một số người trốn lính đi ở
chùa khiến triều đình thu thuế không được mà bắt lính cũng không được.
Theo Sử Trung Quốc của Nguyễn Hiến Lê: “Từ năm 842 Võ Tôn đã cấm một số
chùa và một số tăng ni, năm 844 lại cấm nghiêm hơn, gắt gao nhất là năm
845 hạ lệnh trong hai kinh thành Tràng An và Lạc Dương mỗi nơi chỉ để
lại 4 ngôi chùa và 30 vị tăng ni, các châu quận mỗi nơi một ngôi chùa
và từ 6 đến 20 tăng ni, ngoài ra hết thảy đều bị phá hủy, tăng ni đều
phải hoàn tục. Kết quả có 44,600 ngôi chùa bị phá, tượng Phật bằng đồng
bị nấu ra để đúc tiền và có 260,500 tăng ni hoàn tục. Nhưng khi Võ Tôn
băng, Tuyên Tôn kế vị lại lập tức phục hưng Phật Giáo”. Lịch sử có
những sự kiện hay lập lại như đến thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa, chùa chiền
cũng lại bị đốt phá vì cho rằng tàng tích phong kiến, mê tín, lạc
hậu...Sau đó đến thời kỳ mở cửa đổi mới các chùa chiền bên Trung Quốc
lại được phục hồi tu bổ, Phật giáo được nhà nước tổ chức trở lại và dân
chúng tự do đi chùa, cúng tế, các lễ hội tôn giáo được tổ chức rầm rộ
vừa mang màu sắc văn hóa dân tộc vừa thu hút khách du lịch, hành hương
mang về ngoại tệ.
Trịnh Hảo Tâm
(Phục Sinh vào giữa tháng Tư
Gió Xuân ấm áp giã từ mùa mưa)
Cùng một tác giả đã phát
hành 2 quyển ký sự du lịch “Trên Những Nẻo Đường Việt Nam” và “Miền Tây
Hoa Kỳ” cả hai sách đồng giá 15 US$ mỗi quyển, do nhà sách Văn
Bút (714) 895-7080 phát hành và đã có bán tại các nhà sách. Ở xa
gởi ngân phiếu 15 US$ về tác giả, sách có chữ ký được gởi đến tận nhà:
TRỊNH HẢO TÂM
3683 Hawks Drive
Brea CA 92823
Ðiện thoại 714-528-1413 Nhà
909-395-2134 Sở
Email:
trinhhaotam@hotmail.com