Ký sự du lịch Trung Quốc
Bài 22: Cổ thành Tây An
Trịnh
Hảo Tâm
Rời chùa Từ Ân là nơi Ðường tăng Tam Tạng trụ trì dịch kinh Phật
sau khi thỉnh về từ Ấn Độ, chúng tôi đến khách sạn Orient Hotel Xian để
ăn trưa. Khách sạn là một cao ốc hàng chục tầng tọa lạc trong khu vực
ngân hàng, văn phòng các hãng ngoại quốc. Nhà hàng hình tròn ở tầng cao
nhất của khách sạn, từ nơi đây có thể nhìn bao quát thành phố Tây An
(Xian) thủ phủ tỉnh Thiểm Tây. Ban đầu tôi tưởng nhà hàng xoay vòng
quanh trục giữa nhưng ngồi ăn một hồi thấy cảnh phiá dưới vẫn vậy không
có gì thay đổi mới biết nhà hàng không xoay. Ăn uống ở nhà hàng trên
tháp xoay vòng cũng thích vì cảnh phiá dưới thay đổi, lúc nhìn núi, lúc
nhìn biển với những du thuyền khổng lồ đèn đóm sáng rực ở ngoài khơi
nhưng cũng làm thực khách bối rối khi đi lấy thức ăn. Món mình thích
vừa mới nằm ở đây, ăn xong dĩa định trở lại lấy thêm thì nó lại di
chuyển sang chỗ khác! (Khu các bàn ăn phiá vòng ngoài xoay, nhưng chỗ
để món ăn ở giữa cố định không xoay) Lấy thức ăn xong tìm bàn của mình
ngồi cũng khó, phải đi trở lại gần hết một vòng tròn nhà hàng. Đi xong
nhìn lại thì bàn mình ngồi chỉ cách nơi vừa lấy món ăn...chỉ vài bước!
Nhà hàng Buffet của Orient Hotel Xian chỗ ngồi tốt vì có cảnh thành phố
nhưng thức ăn không có gì đặc biệt, tôi chỉ chấm món súp hoành thánh
nóng và trái cây còn những món khác cũng là những món Trung Hoa nhiều
dầu mỡ.
Ăn trưa xong xe đưa chúng tôi ra khu cổ thành Tây An ở khu trung tâm
thành phố để xem những bức tường thành quách ngày xưa và đi dạo phố mua
sắm vì khu chung quanh đó có rất nhiều cửa hàng Department Stores. Xe
đi vào cửa thành phía Nam là cổng chính. Sau khi ngừng lại mua vé cho
cả đoàn (10 yuan mỗi người), xe chui qua tường vào đậu bên trong thành,
sân này khá lớn bốn bề vây kín bởi tường cao, là một thành nhỏ trong
thành lớn. Ngày xưa nơi đây gọi là “Wong Cheng” để binh sĩ cắm trại đồn
trú, thành lớn bên ngoài có mất vào tay giặc thi binh lính vào bên
trong này cố thủ chờ viện binh kéo về tiếp cứu. Nơi đây có đường bậc
thang rất rộng để lên sân trên tường thành, ngày xưa là đường dốc không
có bậc thang để kỵ binh đem ngựa lên. Chúng tôi leo bậc thang để lên
phiá trên thành. Bên trên có một ngôi tháp 2 tầng rất cổ, kèo cột chạm
trổ hoa văn cầu kỳ sơn xanh đỏ, mái ngói tháp phủ rêu xanh. Cả hai tầng
ngôi tháp làm phòng trưng bày đồ gỗ và bán những món hàng thủ công
nhưng không thấy ai mua. Hai ông công nhân viên bán hàng ngồi uống trà,
chúng tôi vào xem cũng không buồn chào hỏi câu nào. Một nhóm binh lính
hải quân đi phép, mặc quần áo đại lễ, đi tới lui nhìn ngắm, bàn tán và
chuyện trò cười giỡn.
Trên tường thành sân rộng chạy dọc theo tường như một con đường, hai
bên treo cờ đuôi nheo ngủ sắc và lồng đèn đỏ phất phới trong gió nổi
bật trên nền trời thu xanh ngát. Ở đây có cho mướn xe đạp để du khách
đạp vòng quanh cổ thành và những gian hàng cho mướn long bào, vương
miện, nhung y hoàng hậu, lộng che để du khách chụp hình. Từ trên cổng
thành nhìn lên phiá Bắc là một đại lộ thẳng tấp, xe cộ nối đuôi, hai
bên là những dãy cao ốc cửa hàng thương mại người ta đi dập diù. Chúng
tôi có hơn 2 tiếng đồng hồ ở đây nên xuống thành đi dạo phố xem Trường
An kinh đô nhà Ðường bán thứ gì và phụ nữ có đẹp như Dương Qúy
Phi hay không?

Cờ đuôi nheo, lồng đèn đỏ treo trên tường thành phiá nam

Tháp chuông điểm giờ và tháp trống báo động khi giặc về
Thành Trường An được xây từ đời Bắc Triều, năm thứ hai vua Sui Wendi
(520 sau Công Nguyên) có hình chữ nhật, chu vi 4 mặt dài tổng cộng
13.74 km (8.5miles), cao 12 mét (40 feet), phiá trên tường dầy từ 12
đến 14 mét (40-46 feet) và chân tường từ 15 đến 18 mét (50-60 feet). Cứ
cách nhau 120 mét có một tháp canh nhô cao lên, tổng cộng có tất cả 98
tháp canh, trong tháp canh binh sĩ được che chắn an toàn, có thể dùng
cung nỏ để bắn địch quân ở phiá dưới. Khoảng cách 120 mét là tầm bắn
của cung nỏ. Thành Trường An xây để bảo vệ dân chúng sống trong thành
gọi là nội thành, có 4 cửa lớn ở 4 mặt Nam Bắc Ðông Tây và hào sâu đào
dọc bên ngoài tường thành. Thành được xây lại năm 1568 thời nhà Minh do
quan tổng đốc Zhang Zhi trách nhiệm xây bằng gạch đen. Năm 1781 thời
nhà Thanh, tổng đốc Bi Yuan đại tu bổ và xây thêm những ngôi tháp ở 4
cửa. Gần đây nhất là năm 1983, chính quyền tỉnh Thiểm Tây tu bổ tường
thành, đào sâu hào nước dọc theo tường và trồng cây, xây các công viên
làm đẹp thêm diện mạo thành phố Tây An. Hiện nay khi chúng tôi đến đang
xây lại khu phố cổ bên trong thành kế cận cửa Nam, khu này tôi thấy bán
nhiều các sản phẩm văn hoá như bút lông, mực tàu, tranh thư họa
v.v...mà khách hàng là người trong nước. Dù sống trong thời đại tin
học, mọi việc đều dùng vi tính nhưng người Trung Hoa vẫn trọng chữ
nghĩa, chuộng thư họa (nghệ thuật viết chữ), họ rất ham mê đọc sách,
những quán sách báo mọc lên khắp nơi, đường phố nào cũng có.
Chúng tôi đi trên con đường chính lên hướng Bắc, chiều thứ bảy người ta
dạo phố rất đông, tôi có cảm giác như đi trên phố Ðông Kinh Nhật Bản
năm 1974 khi sang tu nghiệp Đo Đạc Thủy Đạo (Hydrographic Survey) nửa
năm bên đó. Vào tiệm KFC (Kentucky Fried Chicken) mua một cốc cà phê
xem ngon dở thế nào? Nhưng thất vọng vì cà phê ở đây nhạt quá như cà
phê instant trong gói nhỏ! Tới công trường Tháp Chuông nhìn thấy Tháp
Trống gần đó về hướng Tây, cả hai tháp có kiến trúc như ngôi đền cổ.
Xuống hầm băng qua con đường chính để vào một Department Store ở hướng
Ðông. Thương xá nhộn nhịp đông người nhất là giới trẻ, có nhiều tầng,
mỗi tầng bán một mặt hàng riêng. Tầng bán nữ trang đèn sáng choang, các
cô bán hàng đồng phục mời chào. Vợ tôi muốn xem ngọc trai, các cô chìu
khách đem ra đủ các loại khác nhau nhưng chúng tôi thấy giá đắt mà
không biết có trả giá được hay không nên không mua. Ra khỏi thương xá
thì bên ngoài vĩa hè thấy một đám đông vây quanh, bên trong đám đông có
hai bé gái, một đứa ốm yếu đang nằm bất động trên vĩa hè, còn đứa chị
độ 14, 15 tuổi thì qùy, trên đầu chít khăn tang và cầm một bức ảnh của
một người đàn ông có lẽ là cha hai đứa bé. Dưới bức ảnh có ghi những
dòng chữ Tàu chắc kể hoàn cảnh gia đình của chúng: có thể là cha làm
công nhân hầm mỏ tử nạn, em bịnh kinh niên cần được giúp đỡ. Có vài
người cũng cho tiền. Có thể hai bé này là ăn mày chuyên nghiệp, dàn
cảnh để đánh động lòng từ tâm của mọi người. Nhưng có thể hoàn cảnh
hoạn nạn thật sự, không ai biết được? Trên đường phố còn có nhiều nghệ
sĩ lang thang, có hai người mù kết hợp với nhau thành một ban nhạc cổ
truyền, họ chơi đàn gáo, ca hát để xin tiền. Cũng có micro, loa điện
nhưng cột dây vá víu chằng chịt trông rất thảm nảo!

Hai bé gái ăn xin trên hè phố
Kinh đô Tràng An dưới thời Ðường đã được Nguyễn Hiến Lê mô tả như sau
trong Sử Trung Quốc do nhà Văn Nghệ xuất bản ở hải ngoại: “Thị trấn lớn
nhất đời Đường là Tây Kinh Tràng An. Theo Eberhard thì kinh đô đó có
thời đông tới 2 triệu. Thị trấn chiếm một khu hình chữ nhật, một chiều
9.7 cây số, một chiều 8.6 cây số, ở phía Đông Nam kinh đô đời Hán.
Những chi tiết đó hợp với bản đồ Trường An in trong cuốn Li Che Min của
Fitzgerald. Chắc chắn thị trấn đó lớn nhất Đông Á, có thể lớn nhất thế
giới thời đó nữa.
Nó nằm ở bờ phía Nam sông Vị, gồm ba phần: Phía Bắc là cung điện với
khu thành nội, phía Nam là khu của dân chúng. Chung quanh có lũy bằng
đất. Khu dân chúng có 11 đại lộ từ Đông qua Tây và 14 đại lộ từ Bắc tới
Nam, tất cả đều thẳng góc với nhau, chia thành 108 xóm, mỗi xóm lại có
một lũy tre đất bao chung quanh với 2 hay 4 cổng, ban đêm đóng. Những
nơi đông đúc nhất là dọc theo đại lộ chính giữa đưa từ Bắc xuống Nam,
và xóm chợ Đông và Tây, chỗ có cửa hàng và nhà của các thương nhân
ngoại quốc. Có trên ba chục ngôi đền, chùa lớn.
Phía Bắc, ngay trên bờ sông Vị là một vườn thượng uyển mênh mông, trong
đó năm 634 cất thêm một cung nữa, cung Đại Minh, nơi ở của vua, gồm ba
chục lâu đài cách biệt nhau, rải rác trong vườn. Lâu đài rộng nhất
(77.6 mét x 130.4 mét) có một cái nóc lớn chống bằng 164 cột. Trong một
góc vườn có sân chơi polo (mã cầu: cưỡi ngựa mà đánh cầu), trò chơi này
người Trung Hoa bắt chước của người Ba Tư.
Phía Bắc sông Vị có khu mộ địa của hoàng tộc. Mỗi ông vua khi còn sống
cho xây trước một cái lăng cho mình. Những vật khai quật được gần đây
(gương đồng, cây trâm cài tóc, đĩa chén, tượng nhỏ bằng ngọc, đồng...)
cho ta biết được đời sống xa hoa của mỗi hạng người sống trong cung
thời đó, từ các cung phi bó chân (cuối đời Đường tục bó chân đã bắt đầu
lan rồi), các vũ nữ, nhạc công, tới bọn người chơi polo, bọn tôi tớ,
bọn giữ ngựa đi những cái ủng thật rộng, mũi quặm, râu quặm, rõ ràng là
gốc ở Tây Vực.
Tràng An thời đó là nơi tụ họp của đủ các giống người: Nhà sư Ấn Độ, tu
sĩ đạo Cảnh giáo, con buôn Samarcande, quân lính Đột Quyết, sinh viên
Nhật Bản…Dân bốn phương tụ lại: Thư sinh lên kinh để thi tiến sĩ, người
đậu rồi thì đợi bổ dụng,; bọn hảo hán đi tìm nhà quyền quý biết dùng
mình; thương gia buôn muối, trà, thuốc bắc, quan lớn ở tỉnh về kinh để
bệ kiến... Cao lâu, tửu điếm, trà thất, kĩ viện mọc lên như nấm, ồn ào
suốt đêm tiếng ca tiếng nhạc. Cả một xã hội thích ca nhạc, mĩ nhân và
thơ. Con buôn cũng biết làm thơ. Mê thơ nhất có lẽ là kĩ nữ. Một số ít
có thanh, có sắc lại biết làm thơ thì nổi danh khắp nước; không biết
làm thơ thì ít nhất cũng thuộc thơ của danh sĩ thời ấy.”
Gần 1,500 năm sau với biết bao nhiêu biến đổi thăng trầm, chúng tôi đến
thăm Tràng An (nay gọi là Tây An nhưng dân địa phương vẫn thích cái tên
Trường An ngày xưa), thành phố vẫn là một trung tâm văn hoá cho cả
nước, là cái nôi phát sinh nền văn minh Trung Hoa với những di tích văn
hóa lâu đời cả 3 ngàn năm như viện bảo tàng bia đá có khắc chữ cổ,
những ngôi chùa cổ chứa kinh sách, những hầm chôn tượng người với nét
điêu khắc sống động và cung điện mùa Ðông của Ðường Minh Hoàng nơi phát
triển các bộ môn thi, ca, vũ, nhạc mà nền văn hóa Trung Hoa ngày nay
vẫn còn vay mượn.
Bốn giờ chiều đoàn chúng tôi lên xe để ra phi trường Tây An đáp chuyến
máy bay hãng China Eastern Airlines lúc 6 giờ 30 để đi Quế Lâm thuộc
tỉnh Quảng Ðông. Phi trường nằm ở hướng Tây Bắc và cách trung tâm Tây
An khoảng 20 miles tuy có xa lộ nhưng cũng phải mất hơn nửa giờ. Qua
cầu trên sông Vị thì cảnh đồng quê hiện ra, những ruộng bắp đã hái
trái, còn lại thân cây khô người ta đốt cả ruộng, khói bay lên. Ngồi
trên xe nhìn thấy rải rác đó đây từng đám khói bốc cao lên trên bầu
trời chiều. Hướng dẫn viên địa phương là cô Ngô Nghị cho biết chính
quyền ra lịnh cấm đốt ruộng nhưng nông dân vẫn đốt để lấy tro làm phân
bón cho mùa năm tới. Trên những cánh đồng có rất nhiều đồi nhỏ, cô cho
biết là những nấm mồ đời xưa của những quan lại, phú hào. Nhà cửa ở đây
cất xa con lộ mới mở và họ tập trung lại thành làng nhỏ chung quanh có
trồng cây che gió. Xe rẽ phải để vào phi trường và nhà ga phi trường
Tây An cũng mới xây và hàng ngày cũng hơn 50 chuyến bay lên xuống. Ngô
Nghị từ giã mọi người và nhận tiền tip, cô chúc: “Có những ngày tuyệt
đẹp ở Quế Lâm và ở nơi đó mùa Thu hoa nở rất đẹp”. Phi cơ A 320 cất
cánh thì trời cũng đã tối, bên dưới Tây An còn lại lấp lánh những ánh
đèn và lập loè những đốm lửa đốt rẫy bắp. Hình ảnh hai em bé gái xin
tiền và hai ông nghệ sĩ mù rách rưới khiến tôi xót xa và cay mắt như có
hạt bụi lọt vào! Trung Quốc ngày càng phát triển, nhiều người giàu có
nhưng đa số dân quê vẫn còn nghèo đói, cơ cực. Nhiều người lang thang
về thành phố làm đủ mọi nghề sinh sống nhưng chỉ kiếm được vài đô la
mỗi ngày!
Trịnh Hảo Tâm
(Cali vào cuối tháng Tư
Vàng hoa cải nở, giã từ mùa mưa)
Cùng một tác giả đã phát
hành 2 quyển ký sự du lịch “Trên Những Nẻo Đường Việt Nam” và “Miền Tây
Hoa Kỳ” cả hai sách đồng giá 15 US$ mỗi quyển, do nhà sách Văn
Bút (714) 895-7080 phát hành và đã có bán tại các nhà sách. Ở xa
gởi ngân phiếu 15 US$ về tác giả, sách có chữ ký được gởi đến tận nhà:
TRỊNH HẢO TÂM
3683 Hawks Drive
Brea CA 92823
Ðiện thoại 714-528-1413 Nhà
909-395-2134 Sở
Email:
trinhhaotam@hotmail.com